- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, giải quyết việc nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị H’A Nỡm và anh Y’V Teh được ly hôn với nhau.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK TỈNH ĐẮK LẮK ——————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2018/HNGĐ-ST Ngày 05 - 7 - 2018 V/v tranh chấp ly hôn, giải quyết việc nuôi chung sau khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quốc Định.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Vui.
Ông Y Krang Jie.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bách – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lắk tham gia phiên tòa: Ông Y Ker B’Krông - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 18/2018/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp ly hôn, giải quyết việc nuôi con chung sau khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2018/QĐXXST- HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2018/QĐST-HNGĐ ngày 29/6/2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị H’A Nỡm, sinh năm 1978; Địa chỉ: Buôn J, xã B, huyện L, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt).
- Bị đơn: Anh Y’V Teh, sinh năm 1971; Địa chỉ: Buôn J, xã B, huyện L, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt).
- Người phiên dịch: Chị H’H Lưk; Địa chỉ: Buôn J, xã B, huyện L, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 03/4/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn là chị H’A Nỡm trình bày:
Chị H’A Nỡm và anh Y’V Teh tìm hiểu và đi đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 02 tháng 12 năm 1995. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian và có 03 người con chung. Nhưng đến năm 2014 thì vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do anh Y’V Teh thường xuyên đi uống rượu, khi say xỉn về nhà gây gỗ, chửi bới, đập phá đồ đạc trong nhà và đánh đập chị H’A Nỡm rất nhiều lần. Chị H’A Nỡm cũng đã cố chịu đựng và dùng lời lẻ khuyên bảo anh Y’V Teh bớt uống rượu để chăm lo làm ăn, nuôi dạy con cái nhưng anh Y’V Teh vẫn chứng nào tật đó không chịu thay đổi nên mẫu thuẫn vợ chồng vẫn thường xuyên xảy ra. Do không chịu được cảnh say xỉn, đánh đập và hành hạ của anh Y’V Teh nên từ năm 2017 mỗi lần anh Y’V Teh đi uống rượu say xỉn về nhà chửi bới, đánh đập thì chị H’A Nỡm bỏ về nhà nhà bố mẹ ruột của mình ở. Hiện nay, chị H’A Nỡm không thể chịu đựng được việc anh Y’V Teh thường xuyên uống rượu say xỉn về nhà quậy phá, đánh đập chị H’A Nỡm được nữa, chị H’A Nỡm thấy không còn tình cảm gì với anh Y’V Teh và mẫu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được với nhau nên chị H’A Nỡm yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Y’V Teh.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung gồm các cháu H H Nỡm, sinh năm 1996; Y Ch Nỡm, sinh ngày 19/3/1999 và H Đ Nỡm, sinh ngày 19/9/2002. Cháu H H Nỡm đã có gia đình và ra ở riêng, cháu Y Ch Nỡm thì đã đủ tuổi thành niên nên chị H’A Nỡm không yêu cầu giải quyết. Còn cháu H Đ Nỡm thì chị H’A Nỡm có nguyện vọng muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cháu cho đến khi đủ 18 tuổi, về cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu anh Y’V Teh phải cấp dưỡng để nuôi cháu H Đ Nỡm.
Về tài sản: Chị H’A Nỡm không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Y’V Teh trình bày: Anh Y’V Teh thống nhất với chị H’A Nỡm về việc kết hôn và tình trạng hôn nhân của vợ chồng như chị H’A Nỡm trình bày. Còn về nguyên mâu thuẫn vợ chồng thì không đúng như chị H’A Nỡm trình bày mà trước đây, thi thoảng anh Y’V Teh có đi làm đổi công cho anh em họ hàng trong buôn, người ta mời uống rượu thì anh có uống và khi về nhà anh có hát hò to tiếng một lúc rồi đi ngủ, chứ anh không có đánh đập vợ con. Mẫu thuẫn vợ chồng bắt đầu từ tháng 9 năm 2017 khi chị H’A Nỡm đi hái cà phê thuê cho người ta ở tỉnh Đắk Nông và huyện C, tỉnh Đắk Lắk thì rất ít về thăm nhà, có tháng về thăm nhà 01 đến 02 lần, mỗi lần về thăm nhà chị H’A Nỡm kiếm chuyện gây sự nói anh Y’V Teh thường xuyên uống rượu say xỉn về chửi bới vợ con, quậy phá trong nhà. Anh Y’V Teh có nói chị H’A Nỡm xin cho anh đi làm thuê cùng, thì chị H’A Nỡm lấy cớ người ta thuê đàn bà, không thuê đàn ông nên không cho anh Y’V Teh đi cùng, anh Y’V Teh nghi ngờ chị H’A Nỡm có quen biết với người đàn ông khác ở bên ngoài khi đi làm thuê nên về nhà gây sự kiếm cớ ly hôn với anh Y’V Teh. Hiện nay, vợ chồng anh theo đạo Công giáo nên anh cũng ít uống rượu, bia và cũng thường xuyên đi làm thuê kiếm tiền về chăm lo cuộc sống gia đình. Vì vậy, anh không đồng ý ly hôn với chị H’A Nỡm.
Về con chung: Anh Y’V Teh và chị H’A Nỡm có 03 con chung, gồm các cháu H H Nỡm, sinh năm 1996; Y Ch Nỡm, sinh ngày 19/3/1999 và H Đ Nỡm, sinh ngày 19/9/2000. Trường hợp vợ chồng ly hôn với nhau thì anh Y’V Teh đồng ý giao cháu H Đ Nỡm cho chị H’A Nỡm trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cho đến khi đủ 18 tuổi, đối với cháu H H Nỡm đã có gia đình và cháu Y Ch Nỡm đã đủ tuổi thành niên nên anh không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Anh Y’V Teh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo kết quả xác minh tại ban tự quản Buôn J, xã B, huyện L, tỉnh Đắk Lắk thì tình trạng hôn nhân và nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị H’A Nỡm và anh Y’V Teh là có thật như chị H’A Nỡm trình bày, mẫu thuẫn vợ chồng xảy ra từ nhiều năm và được gia đình nội ngoại hòa giải nhưng vợ chồng vẫn không thể hàn gắn được. Ý kiến của cháu H Đ Nỡm là muốn ở với chị H’A Nỡm sau khi bố mẹ ly hôn với nhau.
Ý kiến của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên toà: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn vắng mặt trong cả hai phiên toà lần thứ nhất và lần thứ hai mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử vụ án theo hướng chấp nhận yêu cầu của chị H’A Nỡm về việc ly hôn với anh Y’V Teh, giao cháu H Đ Nỡm, sinh ngày 19/9/2002 cho chị H’A Nỡm trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con do chị H Áp Nỡm không yêu cầu nên không đề cập giải quyết. Chị H’A Nỡm là người đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, anh Y’V Teh không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án gồm: Giấy chứng nhận kết hôn giữa chị H’A Nỡm và anh Y’V Teh; Giấy khai sinh của các cháu H H Nỡm, sinh năm 1996; cháu Y Ch Nỡm, sinh ngày 19/3/1999 và cháu H Đ Nỡm, sinh ngày 19/9/2002; Biên bản xác minh của Tòa án về tình trạng hôn nhân, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng tại nơi cư trú của anh Y’V Teh và chị H’A Nỡm; Biên bản lấy lời khai của nguyên đơn và bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết: Chị H’A Nỡm khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và việc nuôi con chung với anh Y’V Teh, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do bị đơn có địa chỉ nơi cư trú tại buôn J, xã B, huyện L, tỉnh Đắk Lắk nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lắk. Anh Y’V Teh đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Lắk căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để thụ lý, giải quyết và xét xử vắng mặt bị đơn là đúng với quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Chị H’A Nỡm và anh Y’V Teh xác lập quan hệ hôn nhân với nhau trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 02/12/1995 nên quan hệ hôn nhân giữa chị H’A Nỡm với anh Y’V Teh là hợp pháp và được pháp luật công nhận. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống giữa chị H’A Nỡm và anh Y’V Teh thường xuyên xảy mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh Y’V Teh không chịu làm ăn mà hay rượu chè sảy xỉn về nhà quậy phá, đánh đập chị H’A Nỡm, mâu thuẫn vợ chồng xảy ra lập đi lập lại nhiều lần và đã được gia đình nội ngoại hai bên và thôn buôn giải quyết nhưng vợ chồng vẫn không thể hàn gắn được với nhau, đến nay chị H’A Nỡm và anh Y’V Teh đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Như vậy, giữa chị H’A Nỡm và anh Y’V Teh đã có hành vi bạo lực gia đình và vi phạm nghiêm trọng về quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015 nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H’A Nỡm đối với anh Y’V Teh
Về con chung: Chị H’A Nỡm và anh Y’V Teh có 03 con chung gồm các cháu H H Nỡm, sinh năm 1996; cháu Y Ch Nỡm, sinh ngày 19/3/1999 và cháu H Đ Nỡm, sinh ngày 19/9/2002. Đối với hai cháu H H Nỡm và cháu Y Ch Nỡm đã thành niên nên Tòa án không giải quyết, còn đối với cháu H Đ Nỡm hiện nay đang được chị H’A Nỡm trực tiếp nuôi dưỡng, nguyện vọng của cháu là muốn ở với chị H’A Nỡm sau khi bố mẹ ly hôn, anh Y’V Teh cũng đồng ý giao cháu H Đ Nỡm cho chị H’A Nỡm trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015 giao cháu H Đ Nỡm cho chị H’A Nỡm trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cho đến khi đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H’A Nỡm không yêu cầu anh Y’V Teh cấp dưỡng nuôi cháu H Đ Nỡm nên không xem xét giải quết.
Về tài sản: Do các bên không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Về án phí: Chị H’A Nỡm là người đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và thuộc hộ nghèo theo quy định của Chính phủ nên được miễn án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 235, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; các Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2015.
Tuyên xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Chị H’A Nỡm và anh Y’V Teh được ly hôn với nhau.
2.Về con chung: Giao cháu H Đ Nỡm, sinh ngày 19/9/2002 cho chị H’A Nỡm trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cho đến khi đủ 18 tuổi. Anh Y’V Teh không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu H Đ Nỡm. Không ai được cản trở việc thăm nom con chung sau khi ly hôn của anh Y’V Teh. Vì lợi ích của con và theo yêu cầu của một trong hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3.Về tài sản: Các bên không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
4.Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm cho chị H’A Nỡm. Anh Y’V Teh không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Lắk; - Chi Cục THADS huyện L; - Các đương sự; - UBND xã B; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Quốc Định |