- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Dan su tranh chấp"
- Tòa quyết gì? Buộc ông Ngô Văn M phải có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Văn D và bà Nguyễn Thị L số tiền nợ gốc là: 6.
- Căn cứ chính? Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2018/DS-ST Ngày 18 /5 /2018 “V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Hợp
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Ngọc Vân.
2. Ông Nguyễn Quang Kim.
- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Minh Nguyệt – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Lành- Kiểm sát viên.
Trong các ngày 20/ 4/ 2018 và ngày 18/ 5/ 2018, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 37/2017/TLST-DS ngày 13 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp Hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2018/QĐXX-ST ngày 13 tháng 02 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyªn ®¬n: Ông Phạm Văn D, sinh năm 1960.
Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1959.
Cùng địa chỉ: Thôn P, xã N, huyện V, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Anh N, sinh năm 1971. Có mặt.
Địa chỉ: Khu T, phường K, TP. B, tỉnh Bắc Ninh.
2. BÞ ®¬n: Ông Ngô Văn M, sinh năm 1954. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện V, tỉnh Bắc Giang.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô Thị H, sinh năm 1957. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện V, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay thể hiện nội dung vụ án như sau:
Ông Ngô Văn M và vợ chồng ông Phạm Văn D, bà Nguyễn Thị L có mối quan hệ quen biết nhau. Từ tháng 9/2004 đến tháng 4 năm 2008 ông Ngô Văn M có vay tiền của ông D và bà Lý nhiều lần cụ thể như sau:
Ngày 28/9/2004 ông M vay của ông D và bà L số tiền: 6.000.000đ lãi suất 2,5%/1 tháng.
Ngày 02/10/2004 ông M vay của ông D và bà L số tiền: 3.000.000đ lãi suất 2,5%/1 tháng.
Ngày 15/01/2005 ông M vay của ông D và bà L số tiền: 3.000.000đ lãi suất 3%/1 tháng.
Ngày 22/02/2005 ông M vay của ông D và bà L số tiền: 4.300.000đ lãi suất 2,5%/1 tháng.
Ngày 09/3/2005 ông M vay của ông D và bà L số tiền: 5.000.000đ lãi suất 2,5%/1 tháng.
Ngày 03/7/2005 ông M vay của ông D và bà L số tiền: 2.000.000đ lãi suất 3%/1 tháng.
Ngày 04/01/2005 ông M vay của ông D và bà L số tiền: 2.000.000đ lãi suất 3%/1 tháng.
Tổng cộng các lần số tiền vay là 25.300.000đ. Nay ông D và bà L yêu cầu ông Ngô Văn M phải trả số tiền nợ gốc 25.300.000đ và lãi suất theo quy định của pháp luật.
Ông Ngô Văn M trình bày: Ông M có quen biết ông D và bà L, do biết ông D và bà L có tiền cho vay lãi nên ông M đã đứng ra vay hộ 03 người quen. Những lần vay đều có viết biện nhận và thỏa thuận về lãi suất theo ông D và bà L đã trình bày. Sau khi vay ông M đã nhiều lần trả tiền gốc và trả được 2.220.000đ tiền lãi cụ thể trả các lần như sau:
Ngày 25/12/2008 trả 6.000.000đồng nợ gốc, không trả lãi.
Ngày 14/4/2008 trả 7.300.000đồng nợ gốc và trả lãi 2.220.000đồng.
Ngày 18/4/2008 trả 5.000.000đồng nợ gốc, không trả lãi.
Ngày 28/10/2008 trả 1.000.000đồng nợ gốc, không trả lãi.
Tổng cộng cả gốc và lãi đã trả là 21.520.000đồng.
Nay ông D, bà L yêu cầu trả tiền ông M nhất trí trả 6.000.000đ tiền nợ gốc và đề nghị tòa án trừ số tiền đã trả và tính lãi theo quy định của pháp luật.
Bà Ngô Thị H trình bày: bà H là vợ ông M, khi ông M vay tiền của ông D bà L hộ người nhà có bàn bạc với bà H và bà H có biết việc vay nợ này. Theo bà H được biết sau khi vay ông M đã trả hết tiền gốc, còn nợ lại tiền lãi chưa trả hết, khi ông D và bà L đòi bà H có biết và cũng nói với ông D và bà L khi nào người mà ông M vay hộ trả hết thì bà H và ông Môn sẽ trả ông D và bà L, bà H và ông M không có khả năng trả hộ.
Tại phiên tòa các đương sự vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày, và thông nhất đề nghị tính lãi suất theo quy định của pháp luật là 0,75%/ 1 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tham gia phiên tòa phát biểu quá trình tiến hành tố tụng, xét xử vụ án, Tòa án và Hội đồng xét xử thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị HĐXX xử áp dụng các điều 471; 474; 476- Bộ Luật dân sự năm 2005.
Kho¶n 3 §iÒu 26, ®iÓm a kho¶n 1 §iÒu 35, §iÒu 147, 271, 273- Bé luËt tè tông d©n sù; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí và lệ phí, xử:
Buộc ông Ngô Văn M phải có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Văn D và bà Nguyễn Thị L số tiền nợ gốc là 6.000.000đ và tiền lãi phát sinh là 11.111.250đồng.
Trả lại ông Phạm Văn D số tiền đã nộp tạm ứng án phí.
Miễn toàn bộ tiền án phí DSST cho ông Ngô Văn M theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ các tài liệu do phía Nguyên đơn xuất trình và các tài liệu có trong hồ sơ và sự thừa nhận của các đương sự thể hiện, quan hệ giữa ông Ngô Văn M, ông Phạm Văn D và bà Nguyễn Thị L có mối quan hệ quen biết. Khi biết ông D có tiền cho vay lãi nên ông M đã vay tiền của ông D, bà L nhiều lần với tổng số tiền 25.300.000đ. Sau khi vay ông M đã thanh toán trả cho ông D và bà L được tổng số tiền nợ gốc là 19.300.000đ và 2.220.000đ tiền lãi suất. Nay theo ông M chỉ còn nợ ông D và bà Lý số tiền nợ gốc là 6.000.000đồng và tiền lãi phát sinh các khoản đã vay. Sau khi thụ lý vụ án, tòa án đã tiến hành hòa giải giữa các đương sự đồng thời người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và ông M thỏa thuận ông M có nghĩa vụ trả cho ông D và bà L tổng số tiền cả gốc và lãi là 16.250.000đồng. Tuy nhiên, phía nguyên đơn có đơn đề nghị thay đổi sự thỏa thuận và yêu cầu Tòa án xét xử vụ án theo quy định của pháp luật và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. HĐXX xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ thể hiện tại các biên nhận vay và trả tiền, cần buộc ông M phải trả ông D và bà L và được trừ vào các khoản tiền đã trả và phải chịu lãi suất theo từng thời điểm trả nợ. Tổng số nợ gốc 25.300.000đ – 19.300.000đ = 6.000.000đ (Sáu triệu đồng).
Về lãi suất: Tại phiên tòa các đương sự thống nhất tính lãi suất theo quy định của pháp luật là 0,75%/1 tháng. Vì vậy, cần áp dụng lãi suất là 0,75% theo quy định của BLDS năm 2005 và tính từng thời gian vay và trả cụ thể:
1-Ngày 28/9/2004 vay 6.000.000đ; ngày 25/12/2008 trả 6.000.000đ chưa có lãi. Từ ngày 28/9/2004 đến ngày 25/12/2008 làm tròn là 51 tháng: 6.000.000đ x 0,75%/1 tháng x 51 tháng = 2.295.000đồng.
2-Ngày 02/10/2004 vay 3.000.000đ; ngày 21/4/2008 trả 3.000.000đ chưa có lãi. Từ ngày 02/10/2004 đến ngày 21/4/2008 là 42 tháng 19 ngày: 3.000.000đ x 0,75%/ 1 tháng x 42 tháng 19 ngày = 959.250đồng.
3-Ngày 22/02/2005 vay 4.300.000đồng; ngày 21/4/2008 trả 4.300.000đ chưa có lãi. Từ ngày 22/02/2005 đến ngày 21/4/2008 là 38 tháng: 4.300.000đ x 0,75%/1 tháng = 1.227.000đ.
4-Ngày 09/3/2005 vay 5.000.000đ; ngày 18/4/2008 trả 5.000.000đ chưa có lãi. Từ ngày 09/3/2005 đến ngày 18/4/2008 là 37 tháng 09 ngày: 5.000.000đ x 0,75% /1 tháng x 37 tháng 09 ngày = 1.398.750đồng.
5-Ngày 03/7/2005 vay 2.000.000đ; ngày 28/10/2008 trả 1.000.000đ chưa có lãi. Từ ngày 03/7/2005 đến ngày 28/10/2008 là 38 tháng 25 ngày: 1.000.000đ x 0,75%/1 tháng x 38 tháng 25 ngày = 291.250đồng.
Như vậy số tiền lãi là: 6.171.250đ.
Đối với số tiền nợ gốc 6.000.000đ chưa trả tính đến ngày 18/5/2018 gồm:
1-Ngày 15/01/2005 vay 3.000.000đ tính đến ngày 18/5/2018 là 160 tháng 03 ngày: 3.000.000đ x 0,75%/1 tháng x 160 tháng 03 = 3.602.250đồng.
2-Ngày 03/7/2005 vay 1.000.000đ tính đến ngày 18/5/2018 là 153 tháng 15 ngày: 1.000.000đ x 0,75%/1 tháng x 153 tháng 15 ngày = 1.150.750đ.
3-Ngày 04/01/2005 vay 2.000.000đ tính đến ngày 18/5/2018 là 160 tháng 14 ngày: 2.000.000đ x 0,75%/ 1 tháng x 160 tháng 14 ngày = 2.407.000đ.
Như vậy số lãi của tiền nợ gốc 6.000.000đ là: 7.160.000đ.
Tổng cộng tiền lãi là 13.331.250đồng, được trừ số tiền lãi đã trả 2.220.000đồng, còn lại tiền lãi chưa trả là: 13.331.250đồng – 2.220.000đồng = 11.111.250đồng.
Nay cần buộc ông Ngô Văn M phải có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Văn D và bà Nguyễn Thị L gồm:
Tiền nợ gốc: 6.000.000đồng + Tiền lãi: 11.111.250đồng = 17.111.250đồng.
Đối với bà Ngô Thị H (vợ ông M) mặc dù có biết việc ông M vay tiền của gia đình ông D nhưng bà H khẳng định là ông M vay hộ người khác, bà H cũng nhất trí cùng ông M trả cho ông D, bà L khi những người mà ông M vay hộ trả tiền. Xét thấy việc bà H và ông M cùng thừa nhận vay tiền của gia đình ông D nhưng là vay hộ người khác, khi vay chỉ có ông M đứng ra vay và ký nợ với ông D. Vì vậy cần buộc cá nhân ông M phải có trách nhiệm trả cho ông D và bà L mà không cần buộc bà H phải có trách nhiệm liên đới trả cùng ông M là có căn cứ pháp luật.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của ông D và bà Lý được chấp nhận nên không phải chịu án phí DSST. Trả lại ông Phạm Văn D số tiền đã nộp tạm ứng án phí. Miễn toàn bộ án phí DSST cho ông Ngô Văn M theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 471; 474; 476 – Bộ luật dân sự 2005.
Căn cứ kho¶n 3 §iÒu 26, ®iÓm a kho¶n 1 §iÒu 35, §iÒu 147, 271, 273- Bé luËt tè tông d©n sù; điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí và lệ phí, xử:
Buộc ông Ngô Văn M phải có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Văn D và bà Nguyễn Thị L số tiền nợ gốc là: 6.000.000đồng và tiền lãi: 11.111.250đồng.
Tổng cộng tiền gốc và tiền lãi là: 17.111.250đồng.(Mười bảy triệu một trăm mười một ngàn hai trăm năm mươi đồng).
KÓ tõ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất 10%/năm tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Tr êng hîp b¶n ¸n, quyết định được thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 2- LuËt thi hµnh ¸n dân sự th× ng êi ® îc thi hµnh ¸n d©n sù, ng êi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn tho¶ thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc bÞ c ìng chÕ thi hµnh ¸n theo quy ®Þnh t¹i c¸c ®iÒu 6, 7, 7a, 7b vµ 9 - LuËt thi hµnh ¸n d©n sù; thêi hiÖu thi hµnh ¸n ® îc thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 30
- LuËt thi hµnh ¸n d©n sù.
Về án phí: Miễn toàn bộ án phí cho ông Ngô Văn M.
Trả lại Phạm Văn D số tiền 634.000đồng (Sáu trăm ba mươi tư ngàn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 04711 ngày 13/10/2017 của Chi cục thi hành án huyện V, tỉnh Bắc Giang.
Báo cho các đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án. N¬i nhËn:
| -TAND tØnh B¾c Giang -VKSND tØnh B¾c Giang -VKSND huyÖn Việt Yên -T.H.A huyÖn Việt Yên -C¸c ® ¬ng sù -L u | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Đã ký Vò V¨n Hîp |