vanban.org

Bản án 06/2018/DS-ST — Tranh chấp đất đai

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

3 Điều 36, khoản 1 Điều 39 và các Điều 144, 146, 147, khoản 1 Điều 165, khoản 1

326 2016 UBTVQH 14 ngày 30 12 2016 của UBTV Quốc Hội; Không ch p nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nông Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 06/2018/DS-ST Tuyên án 06/02/2018
Phúc thẩm Bản án 72/2018/DS-PT Tuyên án 29/05/2018

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "bản án tranh chấp QSD đất giữa ông Nông Quý A với bà Lê Thị T"
  • Tòa quyết gì? 3 Điều 36, khoản 1 Điều 39 và các Điều 144, 146, 147, khoản 1 Điều 165, khoản 1
  • Căn cứ chính? Điều 170 Bộ luật Dân sự; Điều 181 Bộ luật Dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐƠN DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 06/2018/DS-ST
Ngày: 06-02-2018.
V v: Tranh ch p quyền sử
dụng đ t, yêu cầu hủy gi y chứng nhận
QSD đ t”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Võ Thị Minh Nhựt.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dƣ Công Thử;

2. Bà Kơ Ria Trâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Anh Vũ là thẩm tra viên của Tòa án nhân

dân huyện Đơn Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương tham gia phiên toà:

bà Phan Thị Lành - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương

xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 42/2017/TLST-DS ngày 13 tháng 3 năm

2017 về Tranh ch p quyền sử dụng đ t và yêu cầu hủy gi y chứng nhận QSD đ t” theo

Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2018/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 01 năm

2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nông Quý A (M), sinh năm 1969; Trú tại: 39 NH 1, xã

KĐ, huyện ĐD, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Lê Cao T; địa chỉ: 272 BTX,

Phường 2, Tp. ĐL, tỉnh Lâm Đồng - là người đại diện theo ủy quyền theo văn bản ủy

quyền ngày 19 tháng 5 năm 2016 (có mặt).

2. Bị đơn:

2.1/ Bà Lê Thị T, sinh năm 1937; địa chỉ: 40 NH 1, xã KĐ, huyện ĐD, tỉnh

Lâm Đồng.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn Lê Thị T: bà Bế Thị Nhị H và ông Bế A L -

cùng địa chỉ: 40 NH 1, xã KĐ, huyện ĐD, tỉnh Lâm Đồng - là người đại diện theo ủy

quyền theo Văn bản ủy quyền ngày 04 tháng 8 năm 2015 (ông Bế A L có mặt, bà Bế

Thị Nhị H có đơn xin xét xử vắng mặt)

2.2 Vợ Chồng ông Chềnh A N, sinh năm 1953 và bà Lù Sám M, sinh năm

1963; Địa chỉ: 17 xóm 1, NH 1, xã KĐ, huyện ĐD, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).

2.3/ Bà Giắn Lộc M1, sinh năm 1955; Địa chỉ: số 16 xóm 1, NH 1, xã KĐ,

huyện ĐD, tỉnh Lâm Đồng:

2.4 Anh Vòng Viễn C, sinh năm: 1980

2.5 Anh Vòng Viễn H, sinh năm: 1984

2.6 Anh Vòng Viễn Đ, sinh năm: 1991

2.7 Anh Vòng Viễn M, sinh năm: 1988

2.8/ Anh Vòng Viễn H1, sinh năm: 1994

2.9 Anh Vòng Viễn C1, sinh năm: 1983.

Cùng địa chỉ: số 16 xóm 1, NH 1, xã KĐ, huyện ĐD, tỉnh Lâm Đồng; Tạm trú

tại: 109 16 4 khu phố 1, phường QV, TP BH, tỉnh Đồng Nai.

2.10 Chị Vòng Viễn Q, sinh năm 1973; Trú tại số 24 thôn NH 2, xã KĐ, ĐD ,

Lâm Đồng.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn Giắn Lộc M1, Vòng Viễn C, Vòng Viễn H,

Vòng Viễn Đ, Vòng Viễn C1, Vòng Viễn H1, Vòng Viễn C1: chị Vòng Viễn Q - là người đại diện theo ủy quyền theo Văn bản ủy quyền ngày 01 tháng 4 năm 2016 (Có mặt).

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ủy Ban Nhân dân huyện ĐD, tỉnh

Lâm Đồng; địa chỉ: 124 đường 2 tháng 4, khu phố Thạnh Nghĩa, thị tr n Thạnh Mỹ, huyện ĐD, tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan -

UBND huyện ĐD: ông Lưu Đình C, sinh năm: 1972; chức vụ: Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện ĐD; Địa chỉ: Phòng tài nguyên và Môi trường huyện ĐD - là người đại diện theo ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 15 tháng 8 năm 2017 (ông C có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và

tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn ông Nông Quý A trình bày: Thửa đ t số 502 tờ bản đồ 14 diện tích 224m2 tọa lạc tại xã KĐ, huyện ĐD, tỉnh Lâm Đồng là của cha mẹ ông để lại cho ông. Ông được UBND huyện Đơn Dương c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t năm 1993. Năm 1995, ông làm nhà trên đ t. Ranh giới giữa nhà đ t của ông và nhà đ t của bà Lê Thị T có con hẻm rộng khoảng 1,1m. Năm 2010, bà T dỡ nhà ván, xây nhà hết con hẻm và cho rằng ông l n đ t của bà. Ông yêu cầu Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đ t huyện Đơn Dương (nay là Chi nhánh văn phòng đăng ký đ t đai huyện Đơn Dương) đo đạc và áp bản đồ gốc thì phát hiện phía nhà bà Lê Thị T sử dụng của ông 35m2 đ t, ông Chềnh A N, bà Lù Sám M đang sử dụng của ông 10m2 đ t, bà Giắn Lộc M1 đang sử dụng của ông 06m2 đ t, ông hiến đ t làm mương thoát nước phía sau là 15m2. Ông yêu cầu bà Lê Thị T phải trả cho ông 35m2 đ t, ông Chềnh A N phải trả cho ông 10m2 đ t; bà Giắn Lộc M1 và các con của bả gồm: chị Vòng Viễn Q, anh Vòng Viễn C, anh Vòng Viễn H, anh Vòng Viễn Đ, anh Vòng Viễn M, anh Vòng Viễn H1, anh Vòng Viễn C1 trả cho ông 06m2 đ t đã sử dụng l n chiếm của ông. Đối với phần đ t vợ chồng ông Chềnh A N, bà Lù Sám M và bà Giắn Lộc M1 và các con của bà M đã l n của ông thì ông yêu cầu các bị đơn trả lại đ t. Đối với bà Lê Thị T thì ông yêu cầu trả lại đ t phần phía sau chưa xây nhà còn phần đã xây nhà thì ông yêu cầu thanh toán giá trị đ t theo giá trị mà Hội đồng định giá đã xác định.

Ông cho rằng bản đồ đo năm 1991 nếu sai thì cả xã KĐ đều sai. Ông đề

nghị huỷ một phần gi y chứng nhận QSD đ t của các bị đơn và đề nghị Toà án nhân dân huyện Đơn Dương căn cứ vào hoạ đồ lô đ t lập ngày 15 11 2013 (BL 444) để giải quyết vụ án và xác định đúng phần đ t của các bên theo bản đồ địa

chính để buộc những bị đơn trả đ t và giá trị đ t cho ông. UBND huyện Đơn

Dương không thể nói rằng bản đồ địa chính năm 1991 đo đạc không phù hợp

với hiện trạng sử dụng đ t, việc c p gi y chứng nhận QSD đ t cho ông là không

đúng quy định. Ông thống nh t với giá trị tài sản hội đồng định giá đã xác định

ngày 25/4/2014.

Bà Bế Nhị H và ông Bế A L đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị T trình

bày: Năm 1980, bà Lê Thị T nhận chuyển nhượng thửa đ t số 503 của người

khác và được UBND huyện Đơn Dương c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t

181m2, thửa 503 tờ bản đồ 14 xã KĐ. Năm 2011, bà T làm nhà, có mời địa

chính xã KĐ và hai hộ liền kề ký giáp ranh là ông Nông Qúy A và bà Đào Thị

Thuận. Khi đào móng nhà, ông Bế A L có hỏi ông A về mốc ranh giới đ t còn

dư bao nhiêu thì ông A nói là cách móng nhà ông A sang đến đ t của bà T là

0,15m. Khi làm nhà có lùi vào thêm 0,38m. Được sự đồng ý của hai hộ liền kề

nên gia đình ông làm móng và xây nhà. Mặt tiền nhà phía trước 6m chiều dài

nhà 18m, diện tích đ t chiều ngang mặt tiền bà T làm hết đ t, chiều dài đ t là

30m. Qua kiểm tra thực tế thì bà T không l n sang đ t của ông A. Bà T không

đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông A. Theo họa đồ thửa đ t ghi ngày

15 11 2013, ông Phạm Ngọc L1 l n đ t của bà T là 32m2 nhưng bà T không

tranh ch p với ông L1. Ông bà cho rằng Nhà nước c p gi y chứng nhận quyền

sử dụng đ t cho các đương sự trong vụ án này theo đúng hiện trạng sử dụng đ t

là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử huỷ một phần gi y chứng nhận QSD đ t

của ông Nông Quý A để c p lại cho đúng hiện trạng sử dụng đ t của các hộ.

Ông bà thống nh t với giá trị tài sản tranh ch p được định giá ngày 25 4 2014.

Bị đơn ông Chềnh A N và bà Lù Sám M trình bày: ông bà không l n đ t

của ông A 10m2 mà sử dụng đủ diện tích đ t được Nhà nước c p. Việc nhà nước

c p gi y chứng nhận QSD đ t theo hiện trạng sử dụng đ t ổn định từ trước đến

nay là phù hợp. Ông bà đề nghị Hội đồng xét xử huỷ một phần gi y chứng nhận

QSD đ t của ông Nông Quý A để c p lại cho đúng hiện trạng sử dụng đ t của

các hộ và thống nh t với giá trị tài sản được định giá ngày 25 4 2014. Ông bà

cũng không tranh ch p với ai khác trong vụ án này và cũng không có yêu cầu

Toà án giải quyết v n đề gì khác.

Chị Vòng Viễn Q (là bị đơn và đồng thời là người đại diện theo uỷ quyền

của bà Giaén Loäc M1, anh Voøng Vieãn C, anh Voøng Vieãn H, anh Voøng Vieãn Đ, anh Voøng

Vieãn C1, anh Voøng Vieãn H1, anh Voøng Vieãn C2 trình bày: mẹ chị là Giắn Lộc M1,

cha chị là Vòng Lỷ P (chết ngày 23 6 2011 không để lại di chúc). Cha mẹ bà

sinh được bảy người con là Vòng Viễn C, Vòng Viễn H, Vòng Viễn Đ, Vòng

Viễn M, Vòng Viễn H1, Vòng Viễn C2, Vòng Viễn Q. Hiện nay bà M và và các

con đang cùng sử dụng thửa đ t số 504 tờ bản đồ 14 xã KĐ diện tích 81m2 đ t ở

đã được UBND huyện Đơn Dương c p quyền sử dụng đ t cho ông Vòng Say N

vào ngày 09/9/1994 (ông N chết vào ngày 06 12 2008 không để lại di chúc).

Ông N có con trai duy nh t là Vòng Lỷ P. Gia đình chị không l n 06m2 đ t của

ông A và không tranh ch p đ t với ai cả nên không đồng ý yêu cầu của ông A.

Chị đề nghị Hội đồng xét xử huỷ một phần gi y chứng nhận QSD đ t của ông

Nông Quý A để gia đình chị điều chỉnh gi y chứng nhận QSD đ t cho đúng hiện

trạng sử dụng đ t của các hộ và thống nh t với giá trị tài sản được định giá ngày 25/4/2014. Ngoài ra gia đình chị không tranh ch p với ai khác trong vụ án này và cũng không có yêu cầu Toà án giải quyết v n đề gì khác. Các bị đơn khác bà Giắn Lộc M1, anh Vòng Viễn C, anh Vòng Viễn H, anh Vòng Viễn Đ, anh Vòng Viễn M, anh Vòng Viễn H1, anh Vòng Viễn C2 đã ủy quyền cho chị và đều thống nh t như lời trình bày của chị tại phiên tòa hôm nay.

Ông Lưu Đình C - đại diện UBND huyện Đơn Dương trình bày: Các thửa

đ t tại khu vực này hiện trạng sử dụng có biến động và xảy ra sai lệch so với bản đồ địa chính hầu như toàn bộ đ t của các hộ. Quá trình làm việc, UBND huyện Đơn Dương có làm việc với một số hộ thì hiện trạng không đúng với bản đồ địa chính. Qua làm việc với UBND xã KĐ thì UBND xã KĐ xác nhận đ t tại khu vực chợ KĐ có các hộ sử dụng từ trước năm 1990 và UBND xã có đề nghị điều chỉnh gi y chứng nhận QSD đ t cho các hộ. UBND huyện Đơn Dương đã xem xét và có thông báo trả lời đơn các hộ và thống nh t c p đổi lại gi y chứng nhận QSD đ t cho các hộ sử dụng đ t. Đối với các hộ đang tranh ch p QSD đ t trong vụ án này thì hiện trạng sử dụng đ t cũng tương tư như các hộ khác tại khu vực này. UBND huyện Đơn Dương cho rằng việc đo đạc tờ bản đồ số 14 xã KĐ không đúng ranh giới, hiện trạng đ t của các hộ. Xét về phương diện sử dụng đ t, nếu các hộ sử dụng từ năm 1990 nhưng năm 1991 mới lập bản đồ thì rõ ràng bản đồ không phù hợp với hiện trạng sử dụng đ t. Việc ông Nông Quý A yêu cầu hủy một phần gi y chứng nhận QSD đ t của các bị đơn và trả lại đủ diện tích đ t cho ông thì UBND huyện Đơn Dương cho rằng không có căn cứ. Việc các bị đơn yêu cầu huỷ một phần gi y chứng nhận QSD đ t của ông Nông Quý A để điều chỉnh lại gi y chứng nhận QSD đ t phù hợp với hiện trạng là có cơ sở.

Tại phiên toà hôm nay, các đương sự có mặt vẫn giữ nguyên ý kiến của

mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương phát biểu ý kiến về

việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc ch p hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào phòng nghị án đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, thẩm phán thụ lý giải quyết vụ án chưa thực hiện đúng về thời hạn hoãn phiên tòa theo quy định của BLTTDS và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Không ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nông Quý A

về việc yêu cầu các bị đơn bà Lê Thị T trả lại một phần diện tích đ t trong diện tích 35m2 chưa xây nhà và giá trị đ t đối với phần đ t đã xây nhà; vợ chồng ông Chềnh A N bà Lù Sám M trả lại diện tích đ t 10m2; bà Giắn Lộc M1 và các con của bà M trả lại diện tích đ t 06m2 và yêu cầu hủy một phần gi y chứng nhận QSDĐ của các bị đơn.

- Hủy một phần gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t BV032638 do UBND

huyện Đơn Dương c p cho ông Nông Quý A đã c p trùng lên một phần diện tích đ t thửa 503 của bà Lê Thị T là 35m2, một phần diện tích đ t thửa 504 của bà

Giắn Lộc M1 và các con của bà đang sử dụng là 06m2 và một phần diện tích đ t

thửa 501 của vợ chồng ông N bà M là 10m2.

- Ông Nông Quý A, bà Lê Thị T, ông Chềnh A N, bà Lù Xám M, bà Giắn

Lộc M1 và các con của bà có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm

quyền để điều chỉnh diện tích và sơ đồ đ t đúng với thực tế sử dụng.

- Về án phí và chi phí tố tụng: Buộc ông Nông Quý A phải chịu án phí và

chi phí định giá tài sản theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: tại phiên tòa hôm nay, người đại diện hợp pháp của người có

quyền lợi nghĩa vụ liên quan - UBND huyện Đơn Dương là ông Lưu Đình C và

người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Giắn Lộc M1 – bà Bế Thị Nhị H có đơn

xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án

vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự này và giành quyền kháng cáo

vắng mặt cho các đương sự này theo quy định.

Về quan hệ pháp luật tranh ch p: Đây là vụ án Tranh ch p quyền sử

dụng đ t, yêu cầu hủy gi y chứng nhận QSD đ t” theo quy định tại khoản 9 và

khoản 14 Điều 26, Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 giữa giữa nguyên đơn

ông Nông Quý A với các bị đơn là bà Lê Thị T, vợ chồng ông Chềnh A N và bà

Lù Sám M, bà Giắn Lộc M1 và các con của bà là chị Vòng Viễn Q, anh Vòng

Viễn C, anh Vòng Viễn H, anh Vòng Viễn Đ, anh Vòng Viễn M, anh Vòng Viễn

H1, anh Vòng Viễn C1 cùng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là UBND

huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa

án nhân dân huyện Đơn Dương.

Xét về đối tượng tranh ch p:

Diện tích đ t 181m2, thửa đ t số 503, tờ bản đồ số 14 xã KĐ được UBND

huyện Đơn Dương c p gi y chứng nhận QSD đ t cho bà Lê Thị T ngày

30 12 1992 theo gi y chứng nhận QSD đ t số B550207 có nguồn gốc do bà

nhận chuyển nhượng từ năm 1980. Bà đã sử dụng đúng hiện trạng đ t và đến

năm 1992 được UBND huyện Đơn Dương c p gi y chứng nhận QSD đ t và đã

làm nhà trên đ t từ năm 2011. Tuy nhiên, thực tế theo hiện trạng thì bà T chỉ sử

dụng 177m2 đ t và không đúng vị trí trí so với bản đồ địa chính. Cụ thể đã

chồng l n lên thửa 502 của nguyên đơn 35m2, chồng l n ra đường 09m2, còn

133m2 đúng trong vị trí được c p gi y chứng nhận QSD đ t.

Diện tích đ t 81m2 thửa 504 tờ bản đồ số 14 xã KĐ do bà M và các con

của bà là Vòng Viễn Q, Vòng Viễn C, Vòng Viễn H, Vòng Viễn Đ, Vòng Viễn

M, Vòng Viễn H1, Vòng Viễn C1 cùng quản lý có nguồn gốc của ông Vòng Say

N (cha chồng bà M) từ năm 1970 và đã được UBND huyện Đơn Dương c p

gi y chứng nhận QSD đ t vào ngày 09 9 1994 theo gi y chứng nhận QSD đ t số

B550632. Ông N có một người con là Vòng Lỷ P (là chồng của bà M đã chết năm 2000). Sau khi ông P chết thì bà M cùng các con của mình cùng quản lý sử dụng đến nay và có xây nhà năm 2001 với diện tích thực tế theo hiện trạng là 116m2. Theo bản đồ thì có chồng l n sang thửa 502 là 06m2 đ t chồng l n sang thửa 505 là 19m2 đ t chồng l n đường đi là 06m2.

Diện tích đ t 99m2 thửa 501, tờ bản đồ số 14 xã KĐ của ông Chềnh A N,

bà Lù Sám M có nguồn gốc nhận chuyển nhượng của người khác và được UBND huyện Đơn Dương c p gi y chứng nhận QSD đ t ngày 22 12 2000 theo gi y chứng nhận QSD đ t số S074043. Ông bà đã làm nhà ở ổn định từ năm 2000 đến nay. Trước đây, thửa đ t này có diện tích 299m2. Ngày 01/9/2005 ông Chềnh A N làm thủ tục tách ra thành 03 thửa là 501 có diện tích 99m2, thửa 926 tờ bản đồ 14 xã KĐ có diện tích 100m2 được UBND huyện Đơn Dương c p gi y chứng nhận QSD đ t cho Tằng Cắm M2 ngày 01 9 2005 và thửa 927 tờ bản đồ 14 xã KĐ được UBND huyện Đơn Dương c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho ông Chềnh Cóc V và bà Vòng Sát M3 ngày 01/9/2005 có diện tích 100m2. Theo họa đồ đo đạc thực tế và áp bản đồ gốc thì diện tích hiện trạng thửa 501 là 106m2, thửa 926, 927 là 206m2. Tổng 3 thửa là 312m2. Tuy nhiên, thửa 501 chỉ được c p 99m2, thửa 926 được c p 100m2, thửa 927 được c p 100m2. So sánh số liệu được c p và diện tích của thửa 501 trước khi tách thửa dư 13m2.

Diện tích 224m2 đ t thuộc thửa 502 tờ bản đồ số 14 xã KĐ, huyện Đơn

Dương được UBND huyện Đơn Dương c p gi y chứng nhận QSD đ t cho ông Nông Quý A ngày 15/6/1993 theo gi y chứng nhận QSD đ t số B550292. Theo hiện trạng thì ông Anh chỉ sö dông 159m2 đ t. Trong đó, chiều rộng mặt tiền 5,47m, mặt hậu 5,28m, chiều dài 29,5m. Như vậy, diện tích đ t theo hiện trạng giảm 65m2 so với gi y chứng nhận QSD đ t được c p. Theo bản đồ địa chính thì thửa đ t số 503 chồng l n lên thửa 502 là 35m2, thửa đ t số 504 chồng l n lên thửa 502 là 6m2, thửa đ t số 501 chồng l n lên thửa 502 là 10m2 và phần mương thoát nước thuộc thửa 502 là 15m2.

Xét việc c p gi y chứng nhận QSD đ t cho các đương sự trong vụ án

th y rằng: Theo ý kiến của UBND huyện Đơn Dương, báo cáo số 148/BC-TNMT ngày 19 12 2014 của Phòng Tài nguyên và Môi trừơng huyện Đơn Dương, biên bản kiểm tra xác minh khu vực đ t xin kiến nghị điều chỉnh gi y chứng nhận QSD đ t theo sơ đồ lô đ t do Văn phòng đăng ký QSD đ t huyện Đơn Dương (nay là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đ t đai huyện Đơn Dương) tại thôn NH 1, xã KĐ ngày 11/12/2014 thể hiện: việc c p gi y chứng nhận QSD đ t cho các đương sự sử dụng đ t từ trước năm 1990, trong quá trình đo đạc bản đồ địa chính năm 1991 đã đo đạc không phù hợp với hiện trạng sử dụng đ t của các hộ bởi lẽ các hộ sử dụng đ t từ năm 1990 nhưng năm 1991 mới lập bản đồ thì rõ ràng bản đồ không phù hợp với hiện trạng sử dụng đ t. Mặt khác, theo biên bản chứng kiến việc đo vẽ tài sản tranh ch p ngày 09 6 2015, ông Trần Bá H đại diện Chi nhánh văn phòng đăng ký đ t đai huyện Đơn Dương cho rằng việc c p quyền sử dụng đ t cho hộ ông Nông Quý A là dựa trên cơ sở bản đồ địa chính đo vẽ năm 1991, khi tiến hành xét c p sổ thì chỉ dựa trên bản đồ chứ không kiểm tra đo đạc thực tế hiện trạng sử dụng đ t giữa các hộ đang sử dụng”. Do đó việc c p gi y chứng nhận QSD đ t cho ông Anh thửa 502 chồng l n sang đ t bà T 35m2, chồng l n lên đ t bà M 6m2, chồng l n lên đ t của ông N, bà M

10m2 và phần diện tích đ t 15m2 ông Anh đã hiến làm mương thoát nước và làm

đường là không đúng với quy định.

Hơn nữa, theo ý kiến của ông Lưu Đình C thì các thửa đ t tại khu vực này

đều có biến động và sai lệch so với bản đồ địa chính. UBND xã KĐ cũng xác

nhận đ t tại khu vực chợ KĐ có các hộ sử dụng từ trước năm 1990 và có đề nghị

điều chỉnh gi y chứng nhận QSD đ t. UBND huyện Đơn Dương đã thống nh t

c p đổi lại gi y chứng nhận QSD đ t cho các hộ sử dụng đ t. Đối với các hộ

đang tranh ch p QSD đ t trong vụ án này thì hiện trạng sử dụng đ t cũng tương

tư như các hộ khác. Việc đo đạc tờ bản đồ số 14 xã KĐ không đúng ranh giới,

hiện trạng đ t của các hộ. Các hộ sử dụng đ t từ năm 1990 nhưng năm 1991 mới

lập bản đồ thì rõ ràng bản đồ không phù hợp với hiện trạng sử dụng đ t. Nên

ông Nông Quý A yêu cầu hủy một phần gi y chứng nhận QSD đ t của các bị

đơn và trả lại đủ diện tích đ t cho ông Anh là không có căn cứ. Các bị đơn yêu

cầu huỷ một phần gi y chứng nhận QSD đ t của ông Nông Quý A để điều chỉnh

lại gi y chứng nhận QSD đ t phù hợp với hiện trạng là có cơ sở.

Hội đồng xét xử xét th y ý kiến của UBND huyện Đơn Dương là có căn

cứ, phù hợp với lời trình bày của các đương sự cũng như các tài liệu khác có

trong hồ sơ vụ án. Th y rằng, không có căn cứ để ch p nhận yêu cầu khởi kiện

của nguyên đơn và cần huỷ bỏ một phần diện tích đ t trong gi y chứng nhận

QSD đ t đã c p cho ông Nông Quý A chồng l n sang thửa đ t số 503 của bà T

là 35m2, chồng l n lên thửa đ t 504 của bà M 6m2, chồng l n lên đ t 501 của

ông N, bà M 10m2. Về phần diện tích mương nước 15m2 thuộc một phần thửa

502, tờ bản đồ số 14 xã KĐ đã c p cho ông Nông Quý A ông cho rằng ông đã

hiến làm mương thoát nước. Ông không có tranh ch p gì về diện tích 15m2 nói

trên nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.

Về số tiền chi phí định giá tài sản: do yêu cầu của ông Nông Quý A

không được ch p nhận nên cần buộc ông Nông Quý A phải chịu 2.600.000 đồng

tiền chi phí định giá tài sản.

Về án phí, do yêu cầu của nguyên đơn không được Toà án ch p nhận

nên cần buộc ông Nông Quý A phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Do các

bên đương sự thống nh t với kết quả định giá tài sản ngày 25 4 2014, không ai

yêu cầu định giá lại tài sản tranh ch p. Hội đồng xét xử xét th y cần dùng kết

quả định giá này để làm căn cứ xác định số tiền án phí đương sự phải chịu. Theo

biên bản định giá này thì tổng giá trị diện tích đ t ông Anh yêu cầu các bị đơn

phải trả là 164.700.000 đồng. Do vậy cần buộc ông Nông Quý A phải chịu án

phí trên số tiền nói trên.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các khoản 9, khoản 14 Điều 26, Điều 34, khoản 1 Điều 35, khoản

3 Điều 36, khoản 1 Điều 39 và các Điều 144, 146, 147, khoản 1 Điều 165, khoản 1

Điều 166, các Điều 220, 227, 228, 235, Điều 273 của bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ các điều 170, 181, 688 Bộ luật dân sự 2005; Căn cứ Nghị quyết số

326 2016 UBTVQH 14 ngày 30 12 2016 của UBTV Quốc Hội;

Xử:

1. Không ch p nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nông

Quý A về việc yêu cầu các bị đơn bà Lê Thị T trả lại 35m2 đ t, bà Giắn Lộc M1 và các con của bà gồm chị Vòng Viễn Q, anh Vòng Viễn C, anh Vòng Viễn H, anh Vòng Viễn Đ, anh Vòng Viễn M, anh Vòng Viễn H1, anh Vòng Viễn C1 trả lại 6m2 đ t, vợ chồng ông Chềnh A N, bà Lù Xám M trả lại 10m2 đ t thuộc một phần thửa đ t 502 tờ bản đồ số 14, xã KĐ đã c p gi y chứng nhận QSD đ t cho ông Nông Quý A.

2. Tuyên huỷ bỏ một phần diện tích đ t 35m2 thuộc thửa 502, tờ bản đồ số

14, xã KĐ trong gi y chứng nhận QSD đ t đã c p cho ông Nông Quý A chồng lên thửa đ t số 503, tờ bản đồ số 14, xã KĐ của bà Lê Thị T;

3. Tuyên huỷ bỏ một phần diện tích đ t 06m2 thuộc thửa 502, tờ bản đồ số

14, xã KĐ trong gi y chứng nhận QSD đ t đã c p cho ông Nông Quý A chồng lên thửa đ t số 504, tờ bản đồ số 14, xã KĐ của bà Giắn Lộc M1 và các con của bà là chị Vòng Viễn Q, anh Vòng Viễn C, anh Vòng Viễn H, anh Vòng Viễn Đ, anh Vòng Viễn M, anh Vòng Viễn H1, anh Vòng Viễn Chi .

4. Tuyên huỷ bỏ một phần diện tích đ t 10m2 thuộc thửa 502, tờ bản đồ số

14, xã KĐ trong gi y chứng nhận QSD đ t đã c p cho ông Nông Quý A chồng lên thửa đ t số 501, tờ bản đồ số 14, xã KĐ của ông Chềnh A N, bà Lù Sám M.

Các phần diện tích đất bị tuyên hủy có sơ đồ kèm theo. Sơ đồ này là một

phần không thể tách rời của bản án.

5. Ông Nông Quý A, bà Lê Thị T, vợ chồng ông Chềnh A N và bà Lù Sám

M, bà Giắn Lộc M1, chị Vòng Viễn Q, anh Vòng Viễn C, anh Vòng Viễn H, anh Vòng Viễn Đ, anh Vòng Viễn M, anh Vòng Viễn H1, anh Vòng Viễn C1 được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng ký điều chỉnh lại gi y chứng nhận QSD đ t phù hợp với hiện trạng sử dụng đ t theo quy định của pháp luật.

6. Về án phí, buộc nguyên đơn ông Nông Quý A phải chịu 8.235.000 đồng

tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Nông Quý A đã nộp là 400.000 đồng theo các biên lai thu số 05760 ngày 21 5 2012 và 04042 ngày 18 4 2014 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đơn Dương. Nông Nông Quý A còn phải nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 7.835.000 đồng. Các bị đơn bà Lê Thị T, vợ chồng ông Chềnh A N và bà Lù Sám M, bà Giắn Lộc M1, chị Vòng Viễn Q, anh Vòng Viễn C, anh Vòng Viễn H, anh Vòng Viễn Đ, anh Vòng Viễn M, anh Vòng Viễn H1, anh Vòng Viễn C1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

7. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nông Quý A phải chịu 2.600.000 đồng chi phí

định giá tài sản (ông Nông Quý A đã nộp đủ chi phí định giá tài sản).

Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể

từ ngày tuyên án. Riêng UBND huyện Đơn Dương và bà Bế Thị Nhị H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao bản án hoặc niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9

Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại

điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ