vanban.org

Bản án 06/2018/DS-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Sơn La Tuyên án 18/05/2018 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/05/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của anh Đặng Quốc O, giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 99/HNGĐ-ST ngày 5/3/2018 của Tòa án nhân dân thành phố SL, tỉnh Sơn La như sau:

Về con chung: Giao cháu Đặng Nguyệt A, sinh ngày 09/7/2011 và cháu Đặng Minh D, sinh ngày 20/4/2014 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Đặng Quốc O không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn giữa anh Đặng Quốc O và chị Nguyễn Thị N"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của anh Đặng Quốc O, giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 99/HNGĐ-ST ngày 5/3/2018 của Tòa án nhân dân thành phố SL, tỉnh Sơn La như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2018/DS-PT
Ngày 18 tháng 5 năm 2018
V/v: Xin ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Bích Hồng

Các Thẩm phán:

Ông Đinh Huy Hiệp

Ông Cầm Văn Thanh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Trang – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La: Ông Phạm Văn Thinh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 18/5/2018 tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sơn la, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 10/2018/TLDS -PT ngày 10 tháng 4 năm 2018 về việc xin ly hôn. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 99/2018/HNGĐ-ST ngày 5 tháng 3 năm 2018 của Toà án nhân dân thành phố SL bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 08/2018/QĐ - PT ngày 18 tháng 4 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N. Địa chỉ: Tổ x, phường CS, thành phố SL, tỉnh Sơn La. Có mặt

- Bị đơn: Anh Đặng Quốc O. Địa chỉ: Tổ x, phường CS, thành phố SL, tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Người kháng cáo: Bị đơn anh Đặng Quốc O

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị N trình bày:

Chị Nguyễn Thị N và anh Đặng Quốc O kết hôn với nhau vào ngày 11 tháng 12 năm 2010. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã CM, huyện MS, tỉnh Sơn La. Cuộc sống chung của vợ chồng hòa thuận đến đầu năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên mắng chửi nhau ảnh hưởng đến tinh thần và công việc. Nay chi N xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh O.

Về con chung: Có 02 con chung là cháu Đặng Nguyệt A sinh ngày 9/7/2011 và cháu Đặng Minh D sinh ngày 20/4/2014. Chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai cháu đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh O phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Anh chị tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung, về tài sản riêng: Không có

Bị đơn anh Đặng Quốc O trình bày :

Anh nhất trí với ý kiến trình bày của chị Nguyễn Thị N về thời gian và điều kiện kết hôn. Quá trình chung sống hòa thuận đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân cơ bản do vấn đề kinh tế không thể giải quyết được. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 8/2017. Đến nay, anh O xác định tình cảm vợ chồng không còn, nhất trí ly hôn.

Về con chung: Anh nhất trí với trình bày của chi N về con chung. Anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai cháu Đặng Nguyệt A và Đặng Minh D đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi và không yêu cầu chi N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Anh chị tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung, về tài sản riêng: Không có

Tại bản án số: 99/2018/HNGĐ - ST ngày 5/3/2018 của Tòa án nhân dân thành phố SL đã xét xử và quyết định áp dụng Điều 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị N và anh Đặng Quốc O.

2. Về con chung: Giao cháu Đặng Nguyệt A – sinh ngày 9/7/2011 và cháu Đặng Minh D – sinh ngày 20/4/2014 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Đặng Quốc O không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm non con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Người không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19/3/2018 bị đơn anh Đặng Quốc O có đơn kháng cáo không nhất trí với bản án sơ thẩm về phần con chung.

Tại phiên tòa ý kiến tranh luận của bị đơn: Giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Đặng Nguyệt A và Đặng Minh D cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Nếu giao cho chi N sẽ không đảm bảo việc chăm sóc các cháu vì chi N thường xuyên phải đi trực, đi học

Ý kiến tranh luận của nguyên đơn: không nhất trí với đề nghị của bị đơn, đề nghị được nuôi hai cháu do bản thân chị là bác sỹ khoa tâm căn, có kiến thức về chuyên môn để chăm sóc cháu D.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La phát biểu về quá trình thực hiện tố tụng của Tòa án đúng quy định của pháp luật và đề nghị: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của anh Đặng Quốc O. Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; ý kiến trình bày của các đương sự; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định.

Xét kháng cáo của anh Đặng Quốc O không nhất trí giao cháu Đặng Nguyệt A và Đặng Minh D cho chi N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, Hội đồng xét xử xét thấy: Về điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con: Anh O và chi N đều có công việc ổn định, có điều kiện về kinh tế để chăm sóc tốt hai cháu Đặng Nguyệt A và Đặng Minh D đến tuổi trưởng thành.

Xét thấy hiện tại cháu Đặng Minh D bị mắc bệnh tự kỷ, có mức độ phát triển chậm hơn so với tuổi thực. Theo biên bản xác minh tại Bệnh viện tâm thần tỉnh Sơn La của Tòa án cấp sơ thẩm thì cháu D được sống cùng anh chị em ruột sẽ tốt nhất cho sự phát triển của cháu nên việc cấp sơ thẩm giao cả hai cháu Đặng Minh D và Đặng Nguyệt A cho chi N hiện đang là trưởng khoa – bác sĩ chuyên khoa điều trị cho trẻ tự kỷ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là hợp lý, tạo điều kiện kết hợp cả về mặt chuyên môn và gia đình cho cháu D điều trị bệnh.

Về cấp dưỡng nuôi con, tại cấp sơ thẩm và phúc thẩm, chi N đều không yêu cầu anh O cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Từ những nhận định phân tích trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của anh Đặng Quốc O, giữ nguyên bản án sơ thẩm phù hợp với quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên.

Về án phí: Anh Đặng Quốc O phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, do kháng cáo không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của anh Đặng Quốc O, giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 99/HNGĐ-ST ngày 5/3/2018 của Tòa án nhân dân thành phố SL, tỉnh Sơn La như sau:

1. Về con chung: Giao cháu Đặng Nguyệt A, sinh ngày 09/7/2011 và cháu Đặng Minh D, sinh ngày 20/4/2014 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Anh Đặng Quốc O không phải cấp dưỡng nuôi con.

2. Về án phí: Anh Đặng Quốc O phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số: 0000444 ngày 19/3/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố SL.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về quan hệ hôn nhân, về án phí, không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án (ngày 18/5/2018). Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- TAND thành phố SL;.

- Viện kiểm sát tỉnh Sơn La;

- Chi cục THADS thành phố SL

- Những người tham gia tố tụng;

- Phòng kiểm tra nghiệp vụ và THA;

(đã ký)

- Lưu hồ sơ, án văn.

Hoàng Thị Bích Hồng THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Huy Hiệp

Cầm Văn Thanh

Hoàng Thị Bích Hồng Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- TAND thành phố SL;.

- Viện kiểm sát tỉnh Sơn La;

- Chi cục THADS thành phố SL;

- Những người tham gia tố tụng;

- Phòng kiểm tra nghiệp vụ và THA;

- Lưu hồ sơ, án văn.

Hoàng Thị Bích Hồng

THẨM PHÁN

THẨM PHÁN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Huy Hiệp

Hoàng Thị Bích Hồng

Cầm Văn Thanh

Cỡ chữ