vanban.org

Bản án 06/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Áp dụng khoản 1, điều 28, điều 56; khoản 4, điều 147, điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, điều 08, 09, 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình;

* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn, nuôi con chung của chị Nguyễn Thị Bé Ch; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "dfh"
  • Tòa quyết gì? * Áp dụng khoản 1, điều 28, điều 56; khoản 4, điều 147, điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, điều 08, 09, 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình;
  • Căn cứ chính? Điều 08 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 09 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 09/ 02/2017
“Về việc xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH Đ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Ông Châu Văn Sang.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Kinh Kha;

Bà Hồ Thị Mai Hƣơng.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đào Kim Xoa - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đ.

Trong ngày 09 tháng 02 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cxét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 543/2016/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2016 về việc “Xin ly hôn, nuôi con và chia tài sản”. Theo quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2017/QĐHPT-ST ngày 10 tháng 01 năm 2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Bé Ch, sinh năm 1972;

Địa chỉ: Tổ 24, ấp 4, xã Mỹ Hiệp, huyện C, tỉnh Đ;

- Bị đơn:

Bùi Hửu H,

sinh năm 1974;

Địa chỉ: Ấp 3, xã Mỹ Long, huyện C, tỉnh Đ;

( Chị Ch có mặt, anh H vắng mặt tại phiên tòa )

NHẬN THẤY:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bé Ch trình bày trong đơn khởi kiện và tại phiên tòa:

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bé Ch và anh Bùi Hửu H tổ chức đám cưới vào năm 1996, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hiệp.

Thời gian đầu, vợ chồng chung sống với nhau rất hạnh phúc nhưng những năm gần đây anh H không lo làm ăn, sinh ra chơi bời, nhậu nhẹt, không chịu phụ giúp vợ trong công việc để có tiền nuôi con. Một mình chị Bé Ch tảo tần mua bán nuôi con, anh H làm có tiền thì nhậu nhẹt hết. Nay chị Bé Ch nhận thấy tình cảm hai bên không thể hàn gắn được, nên chị Bé Ch yêu cầu được ly hôn với anh Bùi Hửu H.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Bùi Văn Hận, sinh năm 1997 và Bùi Hữu Luân, sinh năm 2001. Hiện nay 02 con chung đang sống cùng với chị Bé Ch. Khi ly hôn, con chung tên Bùi Văn Hận đã trưởng thành, nên chị Bé Ch không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng con chung Bùi Hữu Luân thì yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chị Ch không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có nợ ai và không cho ai nợ.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ vào trình bày của chị Ch thì chị và anh H sống chung với nhau từ năm 1996, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hiệp vào ngày 20/10/2003. Quá trình sống chung vợ chồng có hai con chung tên Bùi Văn Hận, sinh ngày 06/11/1997 và Bùi Hữu Luân, sinh ngày 16/9/2001, không tạo lập được tài sản gì, cũng không cho ai nợ và cũng không nợ ai. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, nhưng thời gian về sau phát sinh mâu thuẩn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống xuất phát từ việc anh H không lo làm ăn, sinh ra chơi bời, nhậu nhẹt không phụ giúp vợ nuôi con, điều này cho thấy lỗi dẫn đến hôn nhân đổ vỡ là do anh H. Và nhiều lần ly thân cho đến nay tình cảm vợ chồng cũng không có dấu hiệu tích cực nào thể hiện hòa hợp xây dựng gia đình hạnh phúc giữa hai người, chị Ch xác định không còn tình cảm với anh H, điều này cho thấy hôn nhân giữa hai người không đạt được mục đích. Do đó tại phiên Tòa chị Ch yêu cầu được ly hôn với anh H xét thấy phù hợp nên chấp nhận.

- Về con chung: Chị Ch và anh H có hai con chung tên Bùi Văn Hận, sinh ngày 06/11/1997 và Bùi Hữu Luân, sinh ngày 16/9/2001. Con chung hiện nay do chị Ch nuôi dưỡng. Khi ly hôn, cháu Bùi Văn Hận đã trưởng thành nên chị Ch không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng đối với cháu Bùi Hữu Luân chị Ch yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Luân và nguyện vọng của cháu Luân là được sống với mẹ khi cha, mẹ ly hôn. Với căn cứ này nên Hội đồng xét xử thấy tiếp tục để chị Ch nuôi dưỡng cháu Luân theo yêu cầu của chị Ch là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị Ch không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết, khi nào có yêu cầu sẽ giải quyết bằng vụ kiện khác.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Ch trình bày vợ chồng không có tài sản chung, không nợ ai, cũng không cho ai nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

- Đối với anh H dù được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh H vẫn cố tình vắng mặt không có lý do, xét thấy cần đưa vụ án ra xét xử vắng mặt đối với anh để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự còn lại.

Đối với việc thay đổi thành viên Hội đồng xét xử theo quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2017/QĐHPT-ST ngày 10/01/2017 thì ông Dương Tấn Lợi sẽ tham gia xét xử với tư cách Hội thẩm nhân dân, vì lý do Chh đáng ông Lợi không thể tham gia xét xử ngày 09/02/2017 thay vào đó ông Lê kinh Kha tham gia vào Hội đồng xét xử. Việc ông Kha tham gia vào thành viên của Hội đồng xét xử đương sự đồng ý việc thay đổi này và đề nghị không hoãn phiên Tòa xét thấy phù hợp với điều 56 Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử đưa vụ án trên ra xét xử công khai trong ngày 09/02/2017 để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự trong vụ án.

Về án phí: Chị Ch phải nộp tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, theo Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án số:10/2009/PL-UBTVQH12, ngày 27/02/2009 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội. Và số tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm chị Nguyễn Thị Bé Ch phải nộp là 200.000đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

* Áp dụng khoản 1, điều 28, điều 56; khoản 4, điều 147, điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, điều 08, 09, 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình;

* Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn, nuôi con chung của chị Nguyễn Thị Bé Ch;

+ Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bé Ch được ly hôn với anh Bùi Hửu H.

+ Về con chung: Chị Nguyễn Thị Bé Ch được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Bùi Hữu Luân, sinh ngày 16/9/2001. Anh H không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, do chị Ch không yêu cầu.

Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung và nợ chung: không có.

* Về án phí:

- Chị Nguyễn Thị Bé Ch phải nộp 200.0000đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 200.000đồng theo biên lai số 04888 ngày 03 tháng 11 năm 2016 của chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Đ.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm chị Ch được quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đ. Riêng anh H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ