vanban.org

Bản án 05 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị L đối với anh Vũ Văn Tr về việc ly hôn, nuôi con.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị L đƣợc ly hôn với anh Vũ Văn Tr. (Giấy chứng nhận kết hôn số 10/2004, quyển số 02 do Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Th cấp ngày 23/6/2004). Về con chung: Anh Vũ Văn Tr giao 04 (bốn) ngƣời con chung tên Vũ Anh D, sinh ngày 19/11/2004; Vũ Anh T, sinh ngày 27/9/2… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị L và Vũ Văn Tr ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị L đối với anh Vũ Văn Tr về việc ly hôn, nuôi con.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 06/2020HNGĐ-ST
Ngày 26-3-2020
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Vân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.

2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 1184/2019/TLST-HNGĐ ngày 12-12-2019 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 07/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2020, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1979; thƣờng trú: 15/20 khu phố Th, phƣờng D, thị xã D, tỉnh B; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Vũ Văn Tr, sinh năm 1978; thƣờng trú: Thôn 13, xã X, huyện Th, tỉnh Th; tạm trú: 15/20 khu phố Th, phƣờng D, thị xã D, tỉnh B; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 27-11-2019 và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Hoàng Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Sau một thời gian tìm hiểu, đƣợc sự đồng ý của gia đình chị L và anh Tr về chung sống với nhau, có tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Th và đƣợc cấp giấy chứng nhận kết hôn số 10/2004, quyển số 02 ngày 23/6/2004. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại phƣờng D, thị xã D, tỉnh B. Vợ chồng sống với nhau hạnh phúc đến đầu năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, thƣờng xuyên cãi vã do anh Tr không lo làm ăn, không giành thời gian chăm sóc vợ con, thƣờng xuyên ăn nhậu say xỉn về đánh đập vợ gây thƣơng tích. Tuy nhiên, chị L không thăm khám bác sĩ, cũng không báo với bất kỳ cơ quan, tổ chức nào. Anh Tr đi làm không đƣa tiền cho chị để trang trải sinh hoạt gia đình, lo cho các con ăn học. Chị L đã nhẫn nhịn rất nhiều, cố gắng rất nhiều để vợ chồng hàn gắn cùng nhau nuôi dƣỡng các con nhƣng anh Tr vẫn không thay đổi. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không còn hạnh phúc nên yêu cầu đƣợc ly hôn với anh Vũ Văn Tr.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 04 ngƣời con chung tên Vũ Anh D, sinh ngày 19/11/2004; Vũ Anh T, sinh ngày 27/9/2006; Vũ Hùng Kh, sinh ngày 30/3/2010 và Vũ Hoàng L, sinh ngày 25/7/2012. Hiện nay các con đang ở với cha mẹ. Trong đơn khởi kiện chị L yêu cầu đƣợc trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng hai con tên Vũ Anh D, sinh ngày 19/11/2004; Vũ Anh T, sinh ngày 27/9/2006 và giao hai con tên Vũ Hùng Kh, sinh ngày 30/3/2010; Vũ Hoàng L, sinh ngày 25/7/2012 cho anh Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Chị L và anh Tr không ai thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Tr không hợp tác, không đến Tòa làm việc. Do đó, chị L đã xin thay đổi yêu cầu về con chung theo đó chị L yêu cầu đƣợc quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng cả bốn ngƣời con. Anh Tr công việc không ổn định, từ khi vợ chồng mâu thuẫn đến nay một mình chị tự lo về kinh tế để trang trải cuộc sống, ăn học cho các con. Chị L hiện tại đang kinh doanh buôn bán trong căn tin của Công ty thu nhập trung bình mỗi tháng là 23.000.000 (hai mƣơi ba triệu) đồng. Vì vậy, chị L không yêu cầu anh Tr cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Vũ Văn Tr đã đƣợc Tòa án thông báo tham gia tố tụng, thông báo yêu cầu cung cấp chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng nhƣng anh không đến Tòa án làm việc, không cung cấp lời khai, không có yêu cầu phản tố, không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa và ngƣời tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhƣng vắng mặt nên căn cứ vào các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định. Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Tòa án nhận định:

Về tố tụng: Chị L khởi kiện anh Tr yêu cầu đƣợc ly hôn, nuôi con nên đây là vụ án hôn nhân và gia đình tranh chấp ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Tr có nơi cƣ trú tại khu phố Th, phƣờng D, thị xã D, tỉnh B nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa vào các ngày 09/3/2020 và ngày 26/3/2020 nhƣng đều vắng mặt không lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh Tr có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Th và đƣợc cấp giấy chứng nhận kết hôn số 10/2004, quyển số 02 ngày 23/6/2004 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị L xác định quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, thƣờng xuyên cãi nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Tr không chăm chỉ làm ăn, thƣờng xuyên uống rƣợu say, không giành thời gian chăm sóc gia đình, không phụ chị về kinh tế để trang trải cuộc sống sinh hoạt, chi phí học tập của các con. Để con có cuộc sống đầy đủ cả cha và mẹ chị L đã cố gắng nhẫn nhịn để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng anh Tr không thay đổi. Tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, vợ chồng không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay chị L xác định không còn tình cảm với anh Tr nên yêu cầu đƣợc ly hôn. Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt đƣợc mục đích đó vợ chồng cần phải thƣơng yêu, tin tƣởng, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt, xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc. Chị L xác định quan hệ hôn nhân của vợ chồng có nhiều mâu thuẫn và hiện cả hai đều không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Anh Tr đã đƣợc Tòa án triệu tập làm việc và tham gia hòa giải nhƣng đều vắng mặt; không cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án. Qúa trình giải quyết vụ án Tòa án đã xác minh, trƣớc khi Tòa án thụ lý vụ án chị L và anh Tr không ai có đơn đề nghị hòa giải tại cơ sở, điều này phù hợp với lời khai của nguyên đơn. Nhƣ vậy, chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị L và anh Tr đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Do đó, chị L yêu cầu đƣợc ly hôn với anh Tr là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 04 (bốn) ngƣời con chung tên Vũ Anh D, sinh ngày 19/11/2004; Vũ Anh T, sinh ngày 27/9/2006; Vũ Hùng Kh, sinh ngày 30/3/2010 và Vũ Hoàng L, sinh ngày 25/7/2012. Sau khi ly hôn chị L yêu cầu đƣợc trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng các con. Khi Tòa án giải quyết việc ly hôn cần xem xét đến sự phát triển của con chƣa thành niên để quyết định việc giao con cho cha hay mẹ trực tiếp nuôi dƣỡng. Xét thấy, các cháu Dũng, Tuấn, Khanh và Long từ trƣớc đến nay sống cùng mẹ, đƣợc sự chăm sóc từ ngƣời mẹ, các cháu đều đƣợc đi học và phát triển tốt. Chị L kinh doanh buôn bán thu nhập 23.000.000 (hai mƣơi ba triệu) đồng/tháng, thời gian làm việc cố định đảm bảo tốt cho việc chăm sóc và nuôi dƣỡng các con. Anh Tr đƣợc Tòa án triệu tập làm việc nhiều lần nhƣng đều vắng mặt, không có ý kiến về con chung, không cung cấp chứng cứ chứng minh anh có việc làm và thu nhập. Vì vậy, chị L yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng các con chung là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với các Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị L không yêu cầu anh Tr cấp dƣỡng nuôi con, xét đây là ý chí tự nguyện của chị nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hoàng Thị L phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 và các Điều 227, 238, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị L đối với anh Vũ Văn Tr về việc ly hôn, nuôi con.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị L đƣợc ly hôn với anh Vũ Văn Tr. (Giấy chứng nhận kết hôn số 10/2004, quyển số 02 do Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Th cấp ngày 23/6/2004).

- Về con chung: Anh Vũ Văn Tr giao 04 (bốn) ngƣời con chung tên Vũ Anh D, sinh ngày 19/11/2004; Vũ Anh T, sinh ngày 27/9/2006; Vũ Hùng Kh, sinh ngày 30/3/2010 và Vũ Hoàng L, sinh ngày 25/7/2012 cho chị Hoàng Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng.

- Về cấp dƣỡng nuôi con: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Sau ly hôn, chị L và anh Tr đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục các con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Trƣờng hợp anh Tr lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hƣởng xấu đến việc chị L nuôi con thì chị có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Vì lợi ích về mọi mặt của các con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hoàng Thị L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0039801, ngày 12/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ