vanban.org

Bản án 05 — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "NMgaan hàng TMCP Đ - Nguyễn Tiến H, Trương Thị Thu H"
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP Hướng dẫn một số quy định tại…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
!HUYỆN!BỐ!TRẠCH!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG BÌNH
!!!!!
Bản án số: 05./2018/DSST!
Ngày: 20/8/2018.
(V/v: Tranh chấp Hợp đồng
vay tài sản)
!

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!BỐ!TRẠCH,!TỈNH!QUẢNG!BÌNH.!

!!!!!!!!!!Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm"có:!

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Nam!

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hải.

2. Ông Nguyễn Văn Cao.

Thư"ký"phiên"tòa: Bà Nguyễn Thị Nhạn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Đại" diện" Viện" kiểm" sát" nhân" dân" huyện" Bố" Trạch," tỉnh" Quảng" Bình" tham"gia"phiên"toà: Ông Phan Mạnh Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2018, tại Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2018/TLST-DS ngày 25/01/2018 về việc “Kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2018/QĐXX - ST ngày 16/7/2018. Giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ. Địa chỉ: Tháp BIDV, số 35 H, Quận H, thành phố Hà Nội Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T - Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Gia H - Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển B. Người được ủy quyền: Ông Nguyễn Phúc M - Trưởng phòng Quản lý rủi ro – Chi nhánh Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển B. Địa chỉ: Số 189 đường H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Theo Quyết định ủy quyền số 464/QĐ-BIDV.QB ngày 01/3/2018.

Bị đơn: - Anh Nguyễn Tiến H, sinh năm: 1984 - Địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn N, huyện B, tỉnh Quảng Bình.

-Chị Trương Thị Thu H, sinh năm: 1986 - Địa chỉ: Tổ dân phố Q, thị trấn N, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Chị Hiền có mặt, anh Hải vắng mặt không có lý do.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN!

!

Trong đơn khởi kiện ngày 16/11/2017 (bút lục “BL” 01, 02) và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án (BL 54, 56), đại diện nguyên đơn trình bày:

Ngày 05/10/2016, anh Nguyễn Tiến H và chị Trương Thị Thu H đã vay tại Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh Quảng Bình số tiền 55.000.000 (Năm mươi lăm triệu) đồng, thời hạn vay 36 tháng với mục đích tiêu dùng, lãi suất thả nổi theo hợp đồng tín dụng số 01/2016/HĐ. Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ anh Nguyễn Tiến H đã sử dụng thu nhập của mình thông qua lương, thưởng tại Chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản thuộc Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Bình. Kể từ ngày vay cho đến ngày 05/4/2018, anh H - chị H còn nợ Ngân hàng số tiền 53.862.954 đồng (trong đó dư nợ gốc là 46.900.000đ và nợ lãi 6.962.954 đồng). Ngân hàng đã nhiều lần trực tiếp đòi nợ nhưng chị H không trả còn anh H đã nghỉ việc và vắng mặt tại địa phương. Ngân hàng TMCP Đ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Nguyễn Tiến H và chị Trương Thị Thu H trả nợ cho Ngân hàng số tiền 50.039.278 đồng (tính đến thời điểm khởi kiện tháng 11/2017).

Tại bản tự khai ngày 12/3/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án (BL 46, 56), bị đơn chị Trương Thị Thu H trình bày: Chị H thừa nhận ngày 05/10/2016, anh H - chị H có vay tại Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh Quảng Bình số tiền 55.000.000 đồng, thời hạn vay 36 tháng với mục đích tiêu dùng, lãi suất thả nổi theo hợp đồng tín dụng số 01/2016/HĐ. Hình thức trả nợ cho Ngân hàng bằng cách trừ qua tài khoản lương của anh Nguyễn Tiến H nhưng do anh H không tu chí làm ăn, ham chơi nên cuối năm 2016 anh H đã bị cơ quan đuổi việc và anh H bỏ đi khỏi địa phương nên không thể trả nợ cho Ngân hàng. Chị H thừa nhận cho đến thời điểm ngày 05/4/2018, anh H và chị H còn nợ Ngân hàng số tiền 53.862.954 đồng, nhưng hiện tại anh H làm gì và ở đâu gia đình không biết, chị Hiền một mình nuôi con nhỏ nên không có khả năng trả nợ. Chị H yêu cầu Tòa án và Ngân hàng tìm kiếm anh H về để có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án anh H đều vắng mặt và tại phiên tòa ngày 02/8/2018 anh H vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị phía bị đơn trả nợ số tiền nợ gốc là 46.900.000đ + số tiền lãi là 9.763.327 (tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm ngày 20/8/2018).

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN!

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng: Hợp đồng tín dụng được thành lập dựa trên cơ sở hai bên thỏa thuận, giữa một bên nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Đ, Chi nhánh Quảng Bình có trách nhiệm chuyển giao số tiền cho vay, ngược lại bị đơn là anh Nguyễn Tiến H và chị Trương Thị Thu H có nghĩa vụ trả nợ đúng hạn. Sự việc xảy ra tranh chấp là do phía bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp. Căn cứ quy định tại Điều 26; Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 thì vụ kiện trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết công khai thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp và phiên hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật nhưng anh Nguyễn Tiến Hải vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ theo quy định tại Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Tiến Hải.

[2] Về nội dung: Xét theo nội dung hợp đồng tín dụng vay tiền, quá trình hoà giải và tại phiên toà sơ thẩm hôm nay đại diện Ngân hàng và chị Trương Thị Thu H đều nhất trí thừa nhận có việc thỏa thuận vay nợ, đến thời điểm hiện tại anh H và chị H còn nợ Ngân hàng số tiền gốc là 46.900.000 đồng và số tiền lãi phát sinh đến ngày xét xử sơ thẩm 20/8/2018 là 9.763.327; tổng cộng 56.663.327 đồng. Vì vậy cần áp dụng khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự năm 2015, buộc anh Nguyễn Tiến H và chị Trương Thị Thu H phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ, Chi nhánh Quảng Bình số tiền vay gốc và tiền lãi như trên.

[4] Về án phí vụ kiện: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án ngày 27/02/2009 và điểm d mục 2 Phần I Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án Buộc anh Nguyễn Tiến H và chị Trương Thị Thu H phải nộp theo quy định của pháp luật. Ngân hàng TMCP Đ không phải nộp án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT!ĐỊNH!

!

Áp dụng các Điều 26; Điều 35, Điều 39 và khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự năm 2015 và Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017: Chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam. Xử: Buộc anh Nguyễn Tiến H và chị Trương Thị Thu H phải trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền 56.663.327 (Năm mươi sáu triệu sáu trăm sáu mươi ba nghìn ba trăn hai mươi bảy) đồng; trong đó số tiền vay gốc là 46.900.000 (bốn mươi sáu triệu chín trăm nghìn) đồng và số tiền lãi là 9.763.327 đồng).

Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án ngày 27/02/2009 và điểm d mục 2 Phần I Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án: Buộc anh Nguyễn Tiến H và chị Trương Thị Thu H phải nộp 2.833.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng TMCP Đsố tiền 1.250.000 đồng theo biên lai số 0002705 ngày 19/01/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Kể từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong nghĩa vụ trả tiền, bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 01/2016/HĐ ngày 05 tháng 10 năm 2016 trên số tiền chưa thi hành tương ứng với thời gian chậm trả.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.”

Án xử sơ thẩm báo cho các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 20/8/2018 để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm. Riêng anh Nguyễn Tiến Hải vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết công khai tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã nơi cư trú./. Nơi!nhận:!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!

- VKSND huyện Bố Trạch;

THẨM!PHÁN!–!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA

- THADS huyện Bố Trạch;

(Đã ký)

- TAND tỉnh Quảng Bình;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án

- Lưu TA

!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Nguyễn!Phúc!Nam!

Cỡ chữ