- Tranh chấp gì? "Lê Văn L tàng trữ trái phép chất ma túy - Bị truy tố tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật T tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án s : 05/2021/HS-ST Ngày: 19-02-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bé Mười
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tăng Phước Long và bà Thạch Thị Thúy Ái
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tân – Thư ký Tòa án nh n d n th nh ph Sa Đ c, tỉnh Đồng Tháp.
- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân thành ph Sa Đéc tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Quốc Khanh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nh n d n th nh ph Sa Đ c, tỉnh Đồng Tháp x t xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý s 01/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra x t xử s 03/2021/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2021 đ i với bị cáo:
Họ v tên: Lê Văn L, sinh năm 1989 tại huyện C, tỉnh Đồng Tháp
Nơi cư trú: Ấp P, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp
Nghề nghiệp: Không;
Trình độ học vấn: 9/12
D n tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; qu c tịch: Việt Nam
Con ông: Lê Văn P1, sinh năm 1966 và bà Hồ Thị E, sinh 1968
Vợ: Võ Thị Kiều H, sinh năm 1986 (đã ly hôn)
Con: có 02 người, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2013
Tiền sự: Không
Tiền án: Ng y 13/11/2015 bị Tòa án nh n d n tỉnh Đồng Tháp x t xử phúc thẩm xử phạt 07 năm tù về tội “Hiếp d m trẻ em”, chấp h nh xong hình phạt tù ngày 20/01/2020.
Tạm giữ: ngày 17/12/2020; tạm giam: ng y 20/12/2020
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp.
Có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1- Chị Phạm Thị D, sinh năm 1978 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp A, xã Q, huyện C, tỉnh Đồng Tháp
2- Chị Hà Thị L1, sinh năm 1979 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp V , xã T, huyện S, tỉnh Đồng Tháp
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các t i liệu có trong hồ sơ vụ án v diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Văn L là người nghiện ma túy. V o khoảng 22 giờ ng y 16/12/2020, L điều khiển xe mô tô biển s 66P1-721.36 đi đến th nh ph G, tỉnh Vĩnh Long mua 01 bịch ma túy với giá 600.000 đồng của người tên B1 để sử dụng.
Sau khi mua ma túy, L giấu bịch ma túy trong người điều khiển xe đến nh trọ Q1 thuộc phường I, th nh ph M, tỉnh Đồng Tháp để thuê phòng ngủ qua đêm.
Đến khoảng 07 giờ 30 phút ng y 17/12/2020, L trả phòng rồi điều khiển xe đến quán giải khát N thuộc Khóm U, Phường Y, th nh ph M để u ng nước. Do sợ bị phát hiện cất giấu ma túy trong người nên L tháo cục thun gác ch n bên phải xe mô tô v lấy bịch ma túy bỏ v o trong cục thun gác ch n xe v để cục thun gác ch n xe dưới đất, cách vị trí L đang ngồi khoảng 0,5 m t thì bị Công an th nh ph Sa Đ c kiểm tra bắt quả tang, thu giữ đồ vật gồm:
- 01 bịch nylon được h n kín 02 đầu, bên trong có chứa tinh thể m u trắng;
- 01 cục thun nhựa m u đen (gác ch n bên phải xe mô tô);
- 01 xe mô tô m u đỏ, biển s 66P1-721.36;
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung m u xanh;
- S tiền 400.000 đồng.
Tại kết luận giám định s 1157/KL-KTHS ngày 20/12/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận:
-Tinh thể rắn chứa trong 01 bịch nylon m u trắng hàn kín được niêm phong trong phong bì gửi giám định l chất ma túy, có kh i lượng 0,938 gam, loại Methamphetamine.
Đ i với xe mô tô biển s 66P1-721.36, bị cáo Lê Văn L xác định mua của người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) với giá 2.700.000 đồng, giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô trên do chị Phạm Thị D đứng tên, hiện tại giấy đăng ký xe đã thất lạc. Quá trình điều tra chị D xác định đã bán xe mô tô trên cho người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) với giá 3.500.000 đồng, chị D không có yêu cầu gì nên xe mô tô của L được tiếp tục quản lý để đảm bảo thi h nh án.
Tại bản cáo trạng s 01/CT-VKSTPSĐ ngày 03/02/2021, Viện kiểm sát nh n d n th nh ph Sa Đ c đã truy t bị cáo Lê Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nh n d n th nh ph Sa Đ c trong phần tranh luận đã giữ nguyên cáo trạng truy t v đề nghị:
- Về hình phạt chính: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với mức án t 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, phạt tiền bị cáo Lê Văn L t 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng.
Ngo i ra, Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng v các vấn đề khác theo quy định pháp luật.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến b o chữa, tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng x t xử nhận định như sau:
Về thủ tục t tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục t tụng của Bộ luật T tụng hình sự trong quá trình khởi t , điều tra, truy t . Trong quá trình điều tra v tại phiên tòa, những người tham gia t tụng không có ý kiến, khiếu nại gì về h nh vi, quyết định của các cơ quan t tụng v người tiến h nh t tụng nên các chứng cứ, t i liệu thu thập được trong hồ sơ vụ án l hợp pháp, đúng theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo th a nhận to n bộ h nh vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang được lập lúc 07 giờ 30 phút ngày 17/12/2020 của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy thuộc Công an th nh ph Sa Đ c, phù hợp với vật chứng đã thu giữ được, phù hợp với kết luận giám định s 1157/KL-KTHS ngày 20/12/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp v các t i liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Qua đó đủ cơ sở xác định: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 17/12/2020 tại quán giải khát N thuộc Khóm U, Phường Y, th nh ph M, Lê Văn L có h nh vi cất giấu, tàng trữ chất ma túy trong cục thun gác chân xe mô tô để dưới đất nơi L đang ngồi thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Vật chứng bị thu giữ l Methamphetamine có tổng kh i lượng l 0,938 gam.
Theo Danh mục II ban h nh kèm Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ thì Methamphetamine l một trong những chất ma túy, chất hướng thần độc hại, bị cấm sử dụng trái ph p, các chất n y chỉ được sử dụng trong ph n tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm, trong lĩnh vực y tế v phải theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền.
Bị cáo l người đã th nh niên nên có đầy đủ năng lực h nh vi v nhận thức được r ng ma túy l các chất g y nghiện, chất hướng thần, l chất độc hại. Nh nước nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, t ng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt, sử dụng trái ph p , vì ma túy s l m ảnh hưởng đến tinh thần, sức khỏe, ý chí phấn đấu của người sử dụng. Thế nhưng, do tư tưởng xấu, không biết rèn luyện phẩm chất đạo đức, nên vào ngày 16/12/2020 bị cáo đã có h nh vi đi đến thành ph G để mua ma túy đem đến th nh ph M cất giấu để sử dụng thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang bị cáo đang t ng trữ ma túy. Vật chứng bị thu giữ l Methamphetamine có tổng kh i lượng l 0,938 gam.
H nh vi của bị cáo l nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật, trực tiếp x m phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nh nước về các chất ma tuý. H nh vi đó l nguyên nh n dẫn đến các loại tội phạm v các tệ nạn xã hội khác như: trộm cắp, cướp giật, góp phần l m gia tăng tệ nạn nghiện ngập ma túy trong xã hội, l m ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo phạm tội với lỗi c ý, động cơ mục đích phạm tội nh m để thỏa mãn cơn nghiện của bản than, thủ đoạn thực hiện tội phạm của bị cáo l hết sức táo bạo và liều lĩnh: Thời gian phạm tội l v o ban ng y, địa điểm phạm tội tại quán giải khát N thuộc Khóm U, Phường Y, th nh ph M thuộc khu vực có đông d n cư, thế nhưng bị cáo vẫn lấy bịch ma túy bỏ v o trong cục thun gác ch n xe v để cục thun gác ch n xe dưới đất, cách vị trí bị cáo đang ngồi khoảng 0,5 m t s dễ bị phát hiện v bị bắt vì gác chân xe của bị cáo đã được tháo ra nhưng bị cáo không sợ sệt, không sợ bị phát hiện, sau đó bị cáo bị Công an kiểm tra phát hiện v bị bắt.
Bị cáo là người đã có vợ v có con. Bị cáo có 01 tiền án về tội “Hiếp d m trẻ em” chưa được xóa án tích. Nếu biết ăn năn h i cải thì bị cáo phải biết rèn luyện phẩm chất đạo đức, c gắng lao động để tạo ra của cải, vật chất phụ giúp gia đình và làm tấm gương t t cho con cái noi theo. Tuy nhiên với l i s ng thích hưởng thụ, chỉ biết s ng cho bản th n, bị cáo đã sử dụng ma túy v trở th nh đ i tượng nghiện nên bị cáo đã đi đến th nh ph G để mua ma túy đem đến th nh ph M cất giấu để sử dụng thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang bị cáo đang t ng trữ trái ph p chất ma túy. Lần phạm tội n y của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm,
T những ph n tích trên cho thấy h nh vi của bị cáo đủ yếu t cấu th nh tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về h nh vi phạm tội của mình.
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuy n, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị ph t tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) ………
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có kh i lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
d)…………”
X t thấy, h nh vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, x m phạm chính sách độc quyền quản lý của Nh nước về các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội. Bị cáo nhận tội, không tranh luận, không b o chữa. X t thấy, phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng tính chất, h nh vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng x t xử x t thấy cần xử lý nghiêm, bắt bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo th nh công d n t t, tu dưỡng bản th n, có ý thức chấp h nh pháp luật, nh m răn đe v phòng ng a chung.
Về hình phạt bổ sung: Tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định
“5. Người ph m tội còn có th bị ph t tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhi m chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công vi c nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Hội đồng x t xử x t thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung đ i với bị cáo, buộc bị cáo nộp một khoản tiền nhất định sung quỹ Nh nước.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án về tội “Hiếp d m trẻ em” chưa được xóa án tích nên lần phạm tội n y của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm, vì vậy cần áp dụng Điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự để xem x t trong việc lượng hình đ i với bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ: X t thấy, trong quá trình điều tra v tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có ông nội l Lê Văn D1 được Nh nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì, vì vậy cần áp dụng Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem x t giảm nhẹ một phần mức hình phạt đ i với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
Về xử lý vật chứng:
- Đ i với cục thun m u đen v kh i lượng ma túy còn lại sau giám định là vật không còn giá trị sử dụng v l vật cấm t ng trữ, lưu h nh, vì vậy cần tịch thu tiêu hủy.
- Đ i với xe mô tô biển s 66P1-721.36, 01 điện thoại di động hiệu Samsung m u xanh v s tiền 400.000 đồng của bị cáo L cần tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
(Hiện các vật chứng trên Chi cục Thi h nh án d n sự th nh ph Sa Đ c đang quản lý).
Về án phí: Bị cáo Lê Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Đ i với người thanh niên tên B1 (không rõ họ tên, địa chỉ) có hành vi bán ma túy cho L ở th nh ph G, tỉnh Vĩnh Long, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an th nh ph Sa Đ c đã có văn bản gửi đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an th nh ph G, tỉnh Vĩnh Long xác minh, l m rõ v xử lý theo quy định.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ v o: Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn L mức án 01 năm 06 tháng tù (Một năm sáu tháng tù). Thời hạn tù tính t ng y 17/12/2020 (ngày tạm giữ).
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ v o Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự
Buộc bị cáo Lê Văn L nộp 5.000.000đồng tiền phạt sung quỹ Nh nước.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ v o Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật T tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 phong bì ghi s 1198 ngày 17/12/2020 có đóng hình dấu tròn m u đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp v các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Văn X, Nguyễn Văn K, Nguyễn Quang V1 v Lê Văn L;
+ 01 cục thun m u đen.
- Tiếp tục quản lý:
+ 01 xe mô tô loại xe Wave, biển s 66P1-721.36, m u đỏ đen, s khung: RRKWCH1UMAXN57738, s máy: VTT29JL1P52FMH057738, máy hiệu FERROLI JAPAN;
+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung m u xanh;
+ S tiền 400.000 đồng.
Của bị cáo Lê Văn L để đảm bảo thi h nh án.
(Hiện tiền v các vật chứng trên do Chi cục Thi h nh án d n sự th nh ph Sa Đ c đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ng y 18/02/2021).
Về án phí: Căn cứ v o Điều 136 Bộ luật T tụng hình sự v Điều 23 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án năm 2016
Bị cáo Lê Văn L nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ng y kể t ng y hôm nay tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
| Nơi nhận: - Tòa án nh n d n tỉnh ĐT; (1b) - VKSND TP Sa Đ c; (2b) - Công an TP Sa Đ c; (4b) - Chi cục THA TP Sa Đ c; (1b) - Sở Tư pháp; (1b) - Thi h nh án phạt tù; (1b) - Những người tham gia t tụng; (1b) - Lưu VT, TP; (2b) - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Bé Mười |