vanban.org

Bản án 05/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H phạm tội sử dụng trái phép CMT - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KV6-VL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2026/HS-ST
Ngày: 19-01-2026.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KV6 - VL

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim H.

Các Hội thẩm nhân dân:

Phạm Gia A.

Nguyễn Chí H.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Th - Thư ký Tòa án nhân dân KV6 - VL

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân KV6 - VL tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Bửu - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2026, tại tại trụ sở Tòa án nhân dân KV6 - VL, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2026/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2026, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, Tên gọi khác: không, Giới tính: nam, Sinh ngày 07/8/1980; Nơi cư trú: ấp TĐ, xã NPT, tỉnh VL.

Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.

Nghề nghiệp: làm thuê Trình độ học vấn: 4/12.

Họ và tên cha: Nguyễn Văn Ng (đã chết).

Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Th.

Vợ, con: không.

Bị cáo là con duy nhất trong gia đình.

Tiền án: không.

Tiền sự: có 03 tiền sự.

- Ngày 09/8/2022, bị Công an xã KTT, huyện MCB, tỉnh BT (nay là Công an xã NPT, tỉnh VL) xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo Quyết định số 52/QĐ-XPHC, chưa nộp phạt.

- Ngày 23/9/2022, bị Công an xã KTT, huyện MCB, tỉnh BT (nay là Công an xã NPT, tỉnh VL) xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với số tiền 1.750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo Quyết định số 63/QĐ-XPHC, chưa nộp phạt.

- Ngày 18/4/2023, bị Tòa án nhân dân huyện MCB, tỉnh BT (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 6, tỉnh VL) Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng, theo Quyết định số 06/QĐ-TA, đã chấp hành xong ngày 13/9/2024.

Nhân thân:

- Ngày 28/9/2020 bị Tòa án nhân dân huyện MCB, tỉnh BT (nay là Tòa án nhân dân KV6 – VL) xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 15/2020/HS-ST, đã chấp hành xong bản án, được xóa án tích.

- Ngày 18/10/2019 bị Công an xã KTT, huyện MCB, tỉnh BT (nay là Công an xã NPT, tỉnh VL) xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo Quyết định số 55/QĐ-XPHC, chưa nộp phạt, nhưng đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

- Ngày 17/4/2020 bị Công an xã KTT, huyện MCB, tỉnh BT (nay là Công an xã NPT, tỉnh VL) xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với số tiền 1.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo Quyết định số 03/QĐ-XPHC, chưa nộp phạt, nhưng đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1955; Nơi cư trú: ấp TĐ, xã NPT, tỉnh VL. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Văn H là người đang bị áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 325/QĐ-UBND ngày 17/9/2024 của Ủy ban nhân dân xã KTT, huyện MCB, tỉnh BT (nay là xã NPT, tỉnh VL), thời hạn 02 năm, từ ngày 17/9/2024 đến ngày 17/9/2026, nhưng vào ngày 31/7/2025, bị can H đã đến khu vực phường An Hội, tỉnh VL mua 02 tép ma túy với giá 200.000 đồng đem về nhà tại ấp TĐ, xã NPT, tỉnh VL sử dụng hết. Đến ngày 01/8/2025, bị Công an xã NPT, tỉnh VL phát hiện mời làm việc, kiểm tra và thu mẫu nước tiểu để giám định và cho kết quả Nguyễn Văn H dương tính với ma túy.

Theo Kết luận giám định số 3577/KL-KTHS ngày 03/9/2025 của Phân viện Kỹ thuật hình sự tại TP. Hồ Chí Minh kết luận: Mẫu chất lỏng màu vàng (dạng nước tiểu) gửi giám định có thành phần ma túy, loại : Methaphetamine và chất chuyển hóa của Heroine (6-monoacetylmorphine và Morophine).

Vật chứng: 01 hộp nhựa có nắp đậy màu đỏ, chứa mẫu nước tiểu của bị cáo Nguyễn Văn H, đã sử dụng hết cho công tác giám định.

Về dân sự: không.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn H và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: ghi nhận 01 hộp nhựa có nắp đậy màu đỏ, chứa mẫu nước tiểu của bị cáo Nguyễn Văn H đã sử dụng hết cho công tác giám định.

Về trách nhiệm dân sự: không.

Bị cáo Nguyễn Văn H thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung cáo trạng đã xác định và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án nhẹ để sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh VL, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân KV6 - VL, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều khoản áp dụng:

Ngày 18/4/2023, Nguyễn Văn H bị Tòa án nhân dân huyện MCB, tỉnh BT (nay là Tòa án nhân dân KV6 - VL) ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng. Ngày 13/9/2024, Nguyễn Văn H đã chấp hành xong quyết định cai nghiện ma túy bắt buộc và đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy theo Quyết định Quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 325/QĐ-UBND ngày 17/9/2024 của UBND xã KTT, huyện MCB, tỉnh BT (nay là xã NPT, tỉnh Vĩnh Long), thời hạn từ ngày 17/9/2024 đến ngày 17/9/2026. Ngày 31/7/2025, tại nhà riêng thuộc ấp TĐ, xã NPT, tỉnh Vĩnh Long, Nguyễn Văn H đã sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức tiêm vào cơ thể. Công an xã NPT đã tiến hành kiểm tra, test nhanh đối với Nguyễn Văn H cho kết quả dương tính với chất ma túy nên lập hồ sơ xử lý, lấy mẫu xét nghiệm ma túy đối với H. Căn cứ Kết luận giám định số 3577/KL-KTHS ngày 03/9/2025 của Phân viện Kỹ thuật hình sự tại TP. Hồ Chí Minh kết luận: Mẫu chất lỏng màu vàng (dạng nước tiểu) gửi giám định có thành phần ma túy, loại : Methaphetamine và chất chuyển hóa của Heroine (6-monoacetylmorphine và Morophine). Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn H là hành vi nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về phòng, chống ma túy, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc sử trái phép chất ma túy là vi phạm và còn đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy mà vẫn sử dụng trái phép chất ma túy nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân KV6 - VL truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn H là hoàn toàn đúng người, đúng tội.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có nhân thân không tốt, cụ thể bị cáo có 02 tiền sự bị Công an xã KTT, huyện MCB, tỉnh BT (nay là Công an xã NPT, tỉnh Vĩnh Long) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chưa đóng tiền phạt và 01 tiền sự bị Tòa án nhân dân huyện MCB, tỉnh BT (nay là Tòa án nhân dân KV6 - VL) ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngoài ra, bị cáo còn từng bị Tòa án nhân dân huyện MCB, tỉnh BT (nay là Tòa án nhân dân KV6 - VL) xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có bác ruột Nguyễn Văn Tiếp là liệt sĩ và cha ruột Nguyễn Văn Nghỉ là thương binh hạn 3/4 được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Về hình phạt:

Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo như phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời nhằm phòng ngừa trong xã hội.

Về xử lý vật chứng: ghi nhận 01 hộp nhựa có nắp đậy màu đỏ, chứa mẫu nước tiểu của bị cáo Nguyễn Văn H đã sử dụng hết cho công tác giám định.

Về trách nhiệm dân sự: không.

Về luận tội và tranh luận của Kiểm sát viên đã xem xét, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để đề nghị mức hình phạt và các đề nghị khác phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận.

Đối với người thanh niên bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Văn H, quá trình điều tra xác minh không xác định và làm việc được nên không có căn cứ xử lý, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Về án phí hình sự sơ thẩm:

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Bị cáo Nguyễn Văn H bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn H 02 (hai) năm tù.

Thời hạn tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: ghi nhận 01 hộp nhựa có nắp đậy màu đỏ, chứa mẫu nước tiểu của bị cáo Nguyễn Văn H đã sử dụng hết cho công tác giám định.

3. Về trách nhiệm dân sự: không.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

5. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Căn cứ vào các điều 331, 333, 336, 337 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình này trong hạn 15 ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Viện kiểm sát nhân dân KV6 - VL được quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ