vanban.org

Bản án 05/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng Tuyên án 08/01/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố bị cáo Phan Thị Mai H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Phan Thị Mai H 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 14/5/2025. [2] Về vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Phan Thị Mai H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – ĐN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2026/HS-ST
Ngày 08-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – ĐN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thu Diễm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thông và bà Trần Thị Kim Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Nhạn - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 – ĐN

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – ĐN tham gia phiên tòa: Bà Doãn Thị Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - ĐN tiến hành mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 94/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Thị Mai H; giới tính: nữ; tên gọi khác: không có; tên gọi khác: không; sinh ngày: 30 tháng 3 năm 1994 tại: xã QS, thành phố ĐN; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: lao động tự do, trình độ học vấn: 12/12; Nơi thường trú: Thôn Phú Cường 1, xã QS, thành phố ĐN. Cha: không rõ; con bà: Phan Thị Cẩm; gia đình bị cáo có 02 người con, bị cáo là con thứ hai. Bị cáo chưa có chồng, con.

Tiền án, tiền sự: không

Nhân thân: ngày 25/6/2021, Công an thành phố TK ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 146/QĐ-XPHC đối với Phan Thị Mai H về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (đã chấp hành xong ngày 23/7/2021).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/5/2025, chuyển tạm giam từ ngày 23/5/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an thành phố ĐN.

Có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Bà Trần Thị Cẩm A, sinh năm 1995; Địa chỉ: Đồng Nghệ, phường Hương Trà, thành phố ĐN. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Thị Mai H đi làm tại các quán Karaoke có quen biết một người tên Tường (không rõ lai lịch), nên khoảng 22 giờ ngày 11/5/2025, H liên lạc với Tường qua ứng dụng Telegram để hỏi mua ma túy. Tường cho biết mua số lượng nhiều sẽ được giảm giá nên H hỏi mua số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng đồng) ma túy gồm 25 (hai mươi lăm) viên thuốc lắc, 08 (tám) gói Ketamine và 01 (một) gói ma tuý “nước vui”. Tường hẹn gặp nhau tại ngã ba đường Văn Cao với Nguyễn Dục thuộc khối phố Mỹ Tây, phường An Mỹ, thành phố TK, tỉnh QN(nay là Phường TK, thành phố ĐN) gần nhà trọ của H để giao dịch ma túy. Sau đó, Tường điều khiển xe máy Honda SH màu trắng đen (không rõ biển số) đến điểm hẹn giao dịch ma túy thì Tường ném túi ni lông màu đen bên trong có chứa số ma tuý H đặt mua vào gốc cây trên vỉa hè rồi rời đi. H đi bộ đến và nhặt túi ni lông đó đem về phòng trọ của mình cất giữ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Lát sau, Tường đến phòng trọ gặp H nhận số tiền mặt 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Vào khya cùng ngày, H sử dụng 01 gói Ketamine và 01 phần viên ma túy một mình tại phòng trọ. Đến khoảng 21 giờ 30 phút ngày 13/5/2025, Tổ công tác Công an phường An Mỹ, Công an tỉnh QN(nay là Công an Phường TK, thành phố ĐN) tiến hành kiểm tra Phòng trọ số 1 của nhà trọ số 03 đường Văn Cao, khối phố Mỹ Tây, phường An Mỹ, thành phố TK, tỉnh QN(nay là phường TK, tỉnh Quảng Nam), tại thời điểm kiểm tra có Phan Thị Mai H và Trần Thị Cẩm A tại phòng trọ và phát hiện Phan Thị Mai H tàng trữ ma túy nên Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ tang vật.

* Tang vật tạm giữ:

- Thu giữ tại bàn gỗ đặt giữa phòng khách:

+ 17 (mười bảy) viên nén màu xám và 03 (ba) cục màu hồng - xám, không rõ hình dạng được chứa trong một túi ni lông có tích hợp khoá bấm đóng kín miệng túi có tổng khối lượng 7,50 gam (bảy phẩy năm mươi gam)

+ 05 (năm) viên nén màu xanh, không rõ hình dạng được chứa trong một túi ni lông có tích hợp khoá bấm đóng kín miệng túi có tổng khối lượng 2,42 gam (hai phẩy bốn mươi hai gam).

+ 07 (bảy) túi ni lông có tích hợp khoá bấm đóng kín miệng túi có tổng khối lượng 6,19 gam (sáu phẩy mười chín gam) (được để vào trong một túi ni lông có tích hợp khoá bấm đóng kín miệng túi).

- Thu giữ tại giường ngủ: 01 (một) gói ni lông, màu đỏ, được bịt kín các đầu, hai mặt gói có in hình con ngựa màu đen nền màu vàng - đỏ và dòng chữ Ferrari có khối lượng là 3,75 gam (ba phẩy bảy mươi lăm gam).

- Thu giữ tại thành bếp: 01 (một) túi ni lông có tích hợp khoá bấm đóng kín miệng túi có khối lượng 0,70 gam (không phẩy bảy mươi gam);

- 01 (một) hộp kim loại màu xanh- trắng.

- 01 (một) túi ni lông màu đen.

- 01 (một) điện thoại Iphone 15 Pro Max màu xám, số máy: MU683LL/A, số sê-ri: CW7Y4KC6N4, số IMEI 351646279704428; số IMEI 2351646279952431; sim số điện thoại 0905738228.

* Tiến hành thử nhanh phát hiện chất ma tuý và cân khối lượng xác định: 17 (mười bảy) viên nén màu xám và 03 (ba) cục màu hồng - xám, không rõ hình dạng được chứa trong một túi ni lông có tích hợp khoá bấm đóng kín miệng túi là chất ma túy loại MDMA, có tổng khối lượng 7,50 gam (bảy phẩy năm mươi gam); chất rắn màu trắng, dạng tinh thể được chứa trong 07 (bảy) túi ni lông có tích hợp khoá bấm đóng kín miệng túi là chất ma túy loại Ketamine có tổng khối lượng 6,19 gam (sáu phẩy mười chín gam); 05 (năm) viên nén màu xanh, không rõ hình dạng được chứa trong một túi ni lông có tích hợp khoá bấm đóng kín miệng túi là chất ma túy loại MDMA, có tổng khối lượng 2,42 gam (hai phẩy bốn mươi hai gam); 01 (một) gói ni lông, màu đỏ, được bịt kín các đầu, hai mặt gói có in hình con ngựa màu đen nền màu vàng - đỏ và dòng chữ Ferrari có khối lượng là 3,75 gam (ba phẩy bảy mươi lăm gam); chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa trong 01 (một) túi ni lông có tích hợp khoá bấm đóng kín miệng túi là chất ma túy loại Ketamine có khối lượng 0,70 gam (không phẩy bảy mươi gam).

* Tiến hành test phát hiện chất ma tuý trong nước tiểu đối với Phan Thị Mai H và Trần Thị Cẩm A ghi nhận: mẫu nước tiểu của Phan Thị Mai H dương tính với chất ma tuý loại MDMA và Ketamine, mẫu nước tiểu của Trần Thị Cẩm A âm tính với chất ma tuý.

* Sau khi Phan Thị Mai H tự giao nộp các chất ma tuý như trên, tổ công tác tiến hành kiểm tra toàn bộ khu vực trong và ngoài phòng trọ của Phan Thị Mai H nhưng không phát hiện đồ vật tài liệu gì khác có liên quan.

* Kết luận giám định số 793/KL-KTHS ngày 22/5/2025 của Phân Viện KHHS tại thành phố ĐN kết luận:

- 17 (mười bảy) viên nén màu xám nêu ở mục 1.1 gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine và MDMA, tổng khối lượng mẫu là 6,42 gam.

- 03 (ba) cục chất rắn màu hồng - xám, không rõ hình dạng và chất bột màu hồng

- xám nêu ở mục 1.2 gửi giám định đều là ma túy, loại MDMA, khối lượng tổng mẫu là 0,48 gam.

- Chất rắn màu trắng dạng tinh thể nêu ở mục 1.3 gửi giám định đều là ma túy, loại Ketamine, tổng khối lượng mẫu là 4,87 gam.

- 05 (năm) viên nén màu xanh nêu ở mục 1.4 gửi giám định đều có tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine, MDMA và Ketamnine, tổng khối lượng mẫu là 1,87 gam, hàm lượng và khối lượng của từng chất ma túy trong mẫu như sau:

Chất ma túy

Hàm lượng (%)

Khối lượng (gam)

MDMA

38,4

0,71808

Ketamine

0,9

0,01683

Methamphetamine

0,3

0,00561

- Chất rắn màu cam (dạng bột) nêu ở mục 1.5 gửi giám định có tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine, Ketamine và Nimetazepam; khối lượng mẫu là 2,72 gam, hàm lượng và khối lượng của từng chất ma túy trong mẫu như sau:

Chất ma túy

Hàm lương (%)

Khối lượng (gam)

Ketamine

3,3

0,08976

Nimetazepam

0,2

0,00544

Methamphetamine

Dạng vết

Không xác định

- Chất rắn màu trắng dạng tinh thể nêu ở mục 1.6 gửi giám định có tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine và Ketamine; khối lượng mẫu là 0,68 gam, hàm lượng và khối lượng của từng chất ma túy trong mẫu như sau:

Chất ma túy

Hàm lương (%)

Khối lượng (gam)

Methamphetamine

3,0

0,02040

Ketamine

79,3

0,53924

Dạng vết là hàm lượng thấp dưới giới hạn định lượng của phương pháp nên không xác định được hàm lượng cũng như khối lượng.

* Ketamine là chất ma túy có số thứ tự 40, Danh mục III; Nimetazepam là chất ma túy có số thứ tự 54, Danh mục III; Methamphetamine là chất ma túy có số thứ tự 247, Mục IIC, Danh mục II và MDMA là chất ma túy có số thứ tự 11, Mục IB, Danh mục I; quy định tại Phụ lục ban hành theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định về danh mục các chất ma túy và tiền chất.

Cáo trạng số 42/CT-VKSĐN-KV5 ngày 08 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - ĐN đã truy tố bị cáo Phan Thị Mai H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội: Giữ nguyên quan điểm cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Phan Thị Mai H; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng: điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 06 năm tù đến 07 năm tù.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Bị cáo Phan Thị Mai H thực hiện hành vi phạm tội trên địa bàn phường TK, thành phố ĐN và bị Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – ĐN truy tố về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), nên vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân khu vực 5 – ĐN theo quy định tại Điều 268 và Điều 269 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng nhưng người này đã có lời khai tại cơ quan điều tra được lưu trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố ĐN, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – ĐN, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về nội dung:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phan Thị Mai H thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng cùng tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được đưa ra xem xét tại phiên tòa.

Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 13/5/2025, tại Phòng trọ số 1 của nhà trọ Số 03 đường Văn Cao, khối phố Mỹ Tây, phường TK, thành phố ĐN, Tổ công tác Công an phường An Mỹ, thành phố TK, tỉnh QN(nay là Công an phường TK, thành phố ĐN) bắt quả tang Phan Thị Mai H có hành vi tàng trữ trái phép 5,51583 gam Ketamine; 0,00544 gam Nimetazepam; 7,64409 gam MDMA và Methamphetamine để sử dụng cho bản thân.

Hành vi của Phan Thị Mai H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5-ĐN truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo:

Ma túy làm hủy hoại sức khỏe, làm mất khả năng lao động, học tập, làm cho thần kinh người nghiện bị tổn hại. Ma tuý là nguyên nhân làm nảy sinh, gia tăng tình hình tội phạm, các tệ nạn xã hội khác.

Chấy ma tuý là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong danh mục chất ma túy do Chính phủ ban hành và độc quyền quản lý.

Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ, sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý tàng trữ với số lượng lớn để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước đối với các chất ma túy. Do vậy, cần phải xử lý bị cáo nghiêm minh theo quy định của pháp luật để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm.

Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân và mức hình phạt của bị cáo thì thấy:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có cậu ruột được tặng Huân chương kháng chiến hạng 3. Vì vậy, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt khi quyết định hình phạt.

Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng nên phải xử phạt hình phạt tù mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.” nhưng xét thấy bị cáo không có tài sản nên không xử phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) điện thoại Iphone 15 Pro Max màu xám, số máy: MU683LL/A, số seri: CW7Y4KC6N4, số IMEI 351646279704428; số IMEI 2351646279952431; sim số 0905738228: Bị cáo H sử dụng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước;

- Đối với 01 sim số 0905.738.228 của Phan Thị Mai H dùng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) hộp kim loại màu xanh - trắng và 01 (một) túi ni lông màu đen: đây là vật dụng Phan Thị Mai H dùng để đựng ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) bì niêm phong bên trong có tất cả mẫu vật và vỏ bao gói hoàn trả được niêm phong còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 793/KL-KTHS của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố ĐN, cụ thể: chất bột màu xám và các viên nén màu xám phần còn lại của 17 viên nén màu xám gửi giám định hoàn trả; chất bột màu hồng - xám phần còn lại của 03 cục chất rắn màu hồng - xám, không rõ hình sạng và chất bột màu hồng xám gửi đi giám định hoàn trả; chất rắn màu trắng dạng tinh thể; chất bột màu xanh và các viên nén màu xanh phần còn lại của 05 viên nén màu xanh giám định hoàn trả; chất rắn màu cam gửi đi giám định hoàn trả, chất rắn màu trắng dạng tinh thể giám định hoàn trả. Đây là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về những vấn đề liên quan trong vụ án:

- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phan Thị Mai H: đã vi phạm khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, do đó Công an thành phố ĐN đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phan Thị Mai H là phù hợp.

- Đối với nam thanh niên đã bán ma túy cho H, do không xác định được lai lịch, nhân thân cụ thể của người này nên không có cơ sở để xử lý, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106; Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Tuyên bố bị cáo Phan Thị Mai H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Phan Thị Mai H 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 14/5/2025.

[2] Về vật chứng:

- Tịch thu sung công quỹ 01 (một) điện thoại Iphone 15 Pro Max màu xám, số máy: MU683LL/A, số seri: CW7Y4KC6N4, số IMEI 351646279704428; số IMEI 2351646279952431của Phan Thị Mai H.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) hộp kim loại màu xanh- trắng; 01 (một) túi ni lông màu đen; tất cả mẫu vật và vỏ bao gói hoàn trả được niêm phong còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 793/KL-KTHS của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố ĐN; sim số 0905738228.

(Tất cả vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11 tháng 12 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố ĐN với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - ĐN).

[3] Án phí hình sự sơ thẩm:

Bị cáo Phan Thị Mai H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

[3] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố ĐN xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ