vanban.org

Bản án 05/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Võ H phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Võ H số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Đánh bạc”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ H cùng đồng phạm phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ H phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 -QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2026/HS-ST
Ngày: 29-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4- QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Thanh Sang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Triệu Nghĩa.

2. Bà Nguyễn Thi Thu Dung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hùng, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4- Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng– Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 01 năm 2026, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 4-Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2026/TLST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2026/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2026 đối với các bị cáo:

1. Võ H, sinh ngày 23 tháng 8 năm 1987, tại tỉnh Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Thôn P, xã M, tỉnh Quảng Ngãi. Số căn cước công dân: 051087001723, cấp ngày 13/04/2021; nơi cấp: Cục trưởng Cục Q- Bộ C

Nghề nghiệp: Nông; Trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Võ Đ, sinh năm 1967 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1968; Vợ: Đoàn Thị Kiều D, sinh năm 1985; Con: có 05 con (con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2019); tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/10/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Ngô Văn T, sinh ngày 10 tháng 8 năm 1988 tại tỉnh Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Thôn P, xã M, tỉnh Quảng Ngãi. Số căn cước công dân: 051088002427, cấp ngày 20/04/2021; nơi cấp: Cục trưởng Cục Q- Bộ C

Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Ngô Văn H2, sinh năm 1951;Con bà: Phạm Thị T1, sinh năm 1951; Vợ: Phạm Thị Ánh N, sinh năm 1988; Con: có 02 con (con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/10/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Ngô Văn H3, sinh ngày 20 tháng 5 năm 1984 tại tỉnh Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Thôn P, xã M, tỉnh Quảng Ngãi. Số căn cước công dân: 051084017477, cấp ngày 13/12/2024; nơi cấp: Cục trưởng Cục Q- Bộ C

Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Ngô Văn N1, sinh năm 1959; Con bà: Nguyễn Thị V, sinh năm 1963; Vợ: Võ Thị Thanh T2, sinh năm 1989; Con: có 02 con (con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/10/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1968. Nơi cư trú: Thôn P, xã M, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 21 giờ 15 phút ngày 25/8/2025, Công an xã M phát hiện, lập biên bản sự việc Võ H, sinh năm 1987, nơi thường trú tại thôn A, xã M, tỉnh Quảng Ngãi, nơi ở hiện nay tại thôn P, xã M, tỉnh Quảng Ngãi; Ngô Văn H3, sinh năm 1984, nơi thường trú tại thôn P, xã M, tỉnh Quảng Ngãi; Ngô Văn T, sinh năm 1988, nơi thường trú tại thôn P, xã M, tỉnh Quảng Ngãi đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức bầu cua thắng thua bằng tiền tại nhà của bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1968, nơi thường trú tại thôn A, xã M, tỉnh Quảng Ngãi, nơi ở hiện nay tại thôn P, xã M, tỉnh Quảng Ngãi (là mẹ ruột của ông Võ H). Tại hiện trường trên nền nhà nơi Võ H, Ngô Văn H3, Ngô Văn T đang ngồi đánh bạc dưới hình thức bầu cua, Công an xã M phát hiện, tạm giữ 01 (một) bộ dụng cụ xóc bầu cua gồm: 01 (một) thau kim loại, 01 (một) dĩa kim loại, 03 (ba) hột kê gà, 01 (một) tờ giấy in các hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai và số tiền Việt Nam 4.850.000đ (bốn triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng); tạm giữ trên tay phải của Ngô Văn H3 số tiền Việt Nam 2.150.000đ (hai triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).

Kết quả điều tra xác định:

Vào chiều tối ngày 25/8/2025, Võ H cùng Ngô Văn H3 và Ngô Văn T có tham gia nhậu tại nhà ông Võ Văn N2 ở thôn P, xã M, tỉnh Quảng Ngãi. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày thì H cùng H3 và T đi bộ về nhà của cha mẹ của H ở tại thôn P, xã M, tỉnh Quảng Ngãi để ngồi uống nước nói chuyện (hiện vợ chồng H và con cái đang sinh sống cùng mẹ của H tại đây, cha của H đã mất vào năm 2009). Lúc này, tại nhà cha mẹ của H có mẹ của H là bà Nguyễn Thị H1, vợ của H là bà Đoàn Thị Kiều D, sinh năm 1985, nơi thường trú tại thôn A, xã M, tỉnh Quảng Ngãi, nơi ở hiện nay tại thôn P, xã M, tỉnh Quảng Ngãi cùng con của vợ chồng H. Sau đó, bà H1, bà D cùng con của vợ chồng H vào trong buồng nằm ngủ, H cùng H3 và T vẫn tiếp tục ngồi chơi uống nước nói chuyện.

Trong quá trình ngồi nói chuyện, H cùng H3 và T rủ nhau đánh bạc dưới hình thức bầu cua thắng thua bằng tiền thì cả nhóm đồng ý. Sau đó, H vào trong nhà lấy ra 01 (một) bộ dụng cụ xóc bầu cua gồm: 01 (một) thau kim loại, 01 (một) dĩa kim loại, 03 (ba) hột kê gà, 01 (một) tờ giấy in các hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai để H cùng H3 và T đánh bạc dưới hình thức bầu cua thắng thua bằng tiền.

Trong khi đánh bạc dưới hình thức bầu cua thắng thua bằng tiền thì H, H3, T quy ước mỗi người cầm cái xóc bầu cua 03 (ba) ván, hết 03 (ba) ván thì tới người tiếp theo cầm cái xóc rồi xoay vòng liên tục hết ván này đến ván khác; người cầm cái xóc bầu cua trực tiếp ăn thua bằng tiền với 02 (hai) người chơi còn lại; giữa 02 (hai) người chơi còn lại này không có di chuyển tiền cược của nhau (hay còn gọi là bắt hoặc tả). Vị trí ngồi khi H, H3, T đánh bạc dưới hình thức bầu cua theo chiều kim đồng hồ thì H rồi tới T rồi tới H3 nên việc xoay vòng cầm cái xóc bầu cua cũng theo thứ tự như trên tức là H cầm cái xóc 03 (ba) ván xong thì tới T cầm cái xóc 03 (ba) ván rồi tới H3 cầm cái xóc 03 (ba) ván rồi tiếp tục xoay vòng liên tục. Trong những ván H tham gia chơi đặt cược số tiền thấp nhất là 50.000đ (năm mươi nghìn đồng), cao nhất là 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), H3 tham gia đặt cược số tiền thấp nhất là 50.000đ (năm mươi nghìn đồng), cao nhất là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), T tham gia đặt cược số tiền thấp nhất là 50.000đ (năm mươi nghìn đồng), cao nhất là 350.000đ (ba trăm năm mươi nghìn đồng). Trong mỗi ván tổng số tiền 02 (hai) người chơi đánh bạc đặt cược thấp nhất khoảng 100.000đ (một trăm nghìn đồng) và cao nhất khoảng 700.000đ (bảy trăm nghìn đồng). Từ khi bắt đầu chơi đánh bạc dưới hình thức bầu cua thắng thua bằng tiền đến khi bị Công an xã M phát hiện thì H cùng H3 và T mỗi người cầm cái xóc bầu cua được 03 (ba) lần tức là mỗi người cầm cái xóc bầu cua được 09 (chín) ván; tổng số ván đánh bạc là khoảng 27 (hai mươi bảy) ván.

Đến khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày, khi H cùng H3 và T đang đánh bạc dưới hình thức bầu cua thắng thua bằng tiền, lúc này T đang cầm cái xóc bầu cua, H đặt cược mặt tôm, cua số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), H3 đặt cược mặt tôm số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) thì Công an xã M phát hiện, số tiền dùng đánh bạc của H và T đang cầm trên tay thì H và T vứt bỏ xuống sòng bầu cua (số tiền phát hiện, thu giữ được là 4.850.000đ (bốn triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng)), số tiền dùng đánh bạc Hào đang cầm trên tay phải là 2.150.000đ (hai triệu một trăm năm mươi nghìn đồng). Công an xã M đã tiến hành lập biên bản sự việc, tạm giữ đồ vật, tài liệu có liên quan.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra, CQ CSĐT Công an tỉnh Q đã tạm giữ:

+ Bộ dụng cụ xóc bầu cua gồm : 01 (một) thau kim loại, 01 (một) dĩa kim loại, 03 (ba) hột kê gà, 01 (một) tờ giấy in các hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai đã được niêm phong trong 01 (một) thùng giấy dán kín có đóng dấu của Công an xã M, chữ ký ghi rõ họ tên của Đỗ Anh D1, Trương Công B, Võ H.

+ Số tiền Việt Nam là 7.000.000đ (bảy triệu đồng), được bảo quản tại kho bạc nhà nước khu vực XV.

Cáo trạng số: 08/CT-VKS-KV4, ngày 26 tháng 12 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Quảng Ngãi truy tố các bị cáo Võ H, Ngô Văn T và Ngô Văn H3 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Võ H, Ngô Văn T và Ngô Văn H3 phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Võ H từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Ngô Văn T từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Ngô Văn H3 từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Đề nghị:

- Tịch thu tiêu hủy: Bộ D2 xóc bầu cua gồm : 01 (một) thau kim loại, 01 (một) dĩa kim loại, 03 (ba) hột kê gà, 01 (một) tờ giấy in các hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai đã được niêm phong trong 01 (một) thùng giấy dán kín có đóng dấu của Công an xã M, chữ ký ghi rõ họ tên của Đỗ Anh D1, Trương Công B, Võ H.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền Việt Nam là 7.000.000đ (bảy triệu đồng), được bảo quản tại kho bạc nhà nước khu vực XV.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Q, Công an xã M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, các bị cáo Võ H, Ngô Văn T và Ngô Văn H3 đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Quảng Ngãi đã truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở xác định: Ngày 25/8/2025, tại nhà bà Nguyễn Thị H1 thuộc thôn P, xã M, tỉnh Quảng Ngãi, các bị cáo Võ H, Ngô Văn H3, Ngô Văn T đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức xóc bầu cua với tổng số tiền đánh bạc là 7.000.000đ (Bảy triệu đồng).

Hành vi trên của các bị cáo Võ H, Ngô Văn H3, Ngô Văn T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh và đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Quảng Ngãi truy tố các bị cáo Võ H, Ngô Văn H3 và Ngô Văn T về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Võ H, Ngô Văn H3 và Ngô Văn T đều phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, không có sự phân công vai trò cụ thể, không có sự sắp xếp, điều hành; các bị cáo Võ H, Ngô Văn H3, Ngô Văn T đều là người thực hành. Bị cáo Võ H và bị cáo Ngô Văn T thực hiện hành vi đánh bạc các lần với số tiền lớn hơn bị cáo Ngô Văn H3, nên các bị cáo Võ H và Ngô Văn T phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo Ngô Văn H3.

Các bị cáo Võ H, Ngô Văn T và Ngô Văn H3 là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, các bị cáo biết hành vi đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn có tiền tiêu xài, thỏa mãn đam mê nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo cần phải xử mức án tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Tuy nhiên, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo Võ H, Ngô Văn T và Ngô Văn H3 đã bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 33 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy: Bộ D2 xóc bầu cua gồm : 01 (một) thau kim loại, 01 (một) dĩa kim loại, 03 (ba) hột kê gà, 01 (một) tờ giấy in các hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai đã được niêm phong trong 01 (một) thùng giấy dán kín có đóng dấu của Công an xã M, chữ ký ghi rõ họ tên của Đỗ Anh D1, Trương Công B, Võ H.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền Việt Nam là 7.000.000đ (bảy triệu đồng), được bảo quản tại kho bạc nhà nước khu vực XV.

Về án phí: Các bị cáo Võ H, Ngô Văn T và Ngô Văn H3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về căn cứ truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện khu vực 4- Quảng Ngãi tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Võ H phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Võ H số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng)

2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Ngô Văn T số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).

3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Ngô Văn H3 phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Ngô Văn H3 số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng)

4. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy: Bộ D2 xóc bầu cua gồm : 01 (một) thau kim loại, 01 (một) dĩa kim loại, 03 (ba) hột kê gà, 01 (một) tờ giấy in các hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai đã được niêm phong trong 01 (một) thùng giấy dán kín có đóng dấu của Công an xã M, chữ ký ghi rõ họ tên của Đỗ Anh D1, Trương Công B, Võ H. Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/01/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Q và Thi hành án dân sự khu vực 4- Quảng Ngãi.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền Việt Nam là 7.000.000đ (bảy triệu đồng), được bảo quản tại kho bạc nhà nước khu vực XV (bị cáo Võ H và Ngô Văn T 4.850.000đ (bốn triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng), bị cáo Ngô Văn H3 2.150.000đ (hai triệu một trăm năm mươi nghìn đồng)). Theo Biên lai thu tiền số: 0000079 ngày 15/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi.

5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo Võ H, Ngô Văn T và Ngô Văn H3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Các bị cáo Võ H, Ngô Văn T, Ngô Văn H3 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1 có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ