- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị H xin ly hôn anh H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7- THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2026/HNGĐ-ST Ngày: 15/01/2026 V/v:“Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7-THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cúc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lưu Đình Tâm
2. Bà Nguyễn Thị Hà
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Hùng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 – Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 93/2025/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2025 và Quyết định Hoãn phiên tòa số: 43/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26/12/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H; Sinh năm: 1992
Địa chỉ: Thôn L2, xã T, tỉnh Thanh Hóa.
Số CCCD: xxxxxxxxxxxx
Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
2. Bị đơn: Anh Phạm Ngọc H; Sinh năm: 1989
Địa chỉ: Khu 1, xã T, tỉnh Thanh Hóa.
Số CCCD: xxxxxxxxxxxx
Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 06/11/2025 cũng trong quá trình giải quyết vụ án, chị Vũ Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Phạm Ngọc H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T (Nay là xã T) tỉnh Thanh Hóa ngày 15/10/2014. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2022 thì mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên sảy ra cãi cọ. Thời gian càng kéo dài khiến cho mâu thuẫn càng trở nên trầm trọng. Mặc dù hai bên gia đình đã nhiều lần khuyên răn nhưng mâu thuẫn không thuyên giảm mà còn nhiều gay gắt hơn. Chị và anh H đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Phạm Ngọc H, sinh ngày 03/02/2015 và Phạm Ngọc H, sinh ngày 09/12/2021. Từ khi vợ chồng sống ly thân các cháu do chị trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con và yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị mỗi tháng mỗi cháu là 2.000.000đ (Hai triệu đồng) cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Về tài sản và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã Tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh H nhưng anh H vắng mặt nên không có ý kiến của anh H trong hồ sơ vụ án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Tòa án đã xác định đúng quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của các đương sự trong vụ án. Từ giai đoạn thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án cũng như các thành viên của Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là HĐXX) và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (Sau đây viết tắt là BLTTDS). Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của BLTTDS.
Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117 Luật hôn nhân gia đình. Về hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị H được ly hôn anh Phạm Ngọc H; Về con chung: Giao cháu Phạm Ngọc H, sinh ngày 03/02/2015 và Phạm Ngọc H, sinh ngày 09/12/2021 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh H cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H mỗi tháng mỗi cháu số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng), cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
. Chị Vũ Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn đối với anh Phạm Ngọc H, anh H cư trú tại xã T, tỉnh Thanh Hóa. Nên xác định đây là vụ án ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 7- Thanh Hóa, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Trong vụ án có con chưa thành niên nên Tòa án đã tiến hành xác minh để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo khoản 3 Điều 208 BLTTDS và đã thông báo kết quả thu thập tài liệu chứng cứ cho các bên đương sự cũng nhưng VKS được biết.
. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ cho các bên đương sự, nhưng anh H vắng mặt nên Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vắng mặt anh H và đã thông báo kết quả phiên họp cho anh H theo khoản 3 Điều 210 BLTTDS.
. Chị H có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 BLTTDS.
. Tại phiên tòa, chị H vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, anh H vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 BLTTDS, Tòa án xét xử vắng mặt chị H và anh H.
. Về hôn nhân: Chị Vũ Thị H và anh Phạm Ngọc H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T (Nay là xã T) tỉnh Thanh Hóa ngày 15/10/2014 và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng hòa thuận đến năm 2022 thì mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hòa hợp, không có tiếng nói chung nên hay sảy ra bất đồng, cuộc sống không hạnh phúc. Chị H và anh H đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Việc này đã được các cấp chính quyền xã T xác nhận, đồng thời cũng phù hợp với nội dung mà Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương. HĐXX nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Vũ Thị H được ly hôn anh Phạm Ngọc H.
. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung như chị H trình bày. Hiện nay cả 02 con đang do chị H trực tiếp nuôi dưỡng, bản thân cháu H có nguyện vọng được ở với mẹ. Trong khi đó, anh H không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị H. Do đó, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của chị H, giao cả 02 con cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh H cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H mỗi tháng cho mỗi cháu là 2.000.000đ (Hai triệu đồng) cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
. Về tài sản: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
. Về án phí: Chị H, anh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117 Luật hôn nhân gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5, điểm a, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí và lệ phí Toà án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị H.
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị Hiền được ly hôn anh Phạm Ngọc H.
2. Về con chung: Giao cháu Phạm Ngọc H, sinh ngày 03/02/2015 và Phạm Ngọc H, sinh ngày 09/12/2021 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh H cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H mỗi tháng cho mỗi con số tiền là 2.000.000đ (Hai triệu đồng), 02 con là 4.000.000đ (Bốn triệu đồng)/tháng. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 01 năm 2026 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi các bên có yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng khác.
Khoản tiền cấp dưỡng được thi hành ngay mặc dù bản có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Anh H có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 7 - Thanh Hóa theo biên lai số BLTU/25E/0003455 ngày 26/11/2025. Chị H đã nộp đủ tiền án phí. Anh Phạm Ngọc H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí DSST về việc cấp dưỡng nuôi con chung.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt chị Vũ Thị H và anh Phạm Ngọc H. Chị H và anh H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 7 - Thanh Hóa; - THADS tỉnh Thanh Hóa; - UBND xã T; - Các đương sự; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Cúc |