vanban.org

Bản án 05/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Á đối với ông Nguyễn Văn H7 việc: “Ly hôn”.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị Á được ly hôn với ông Nguyễn Văn H1. 2. Về con chung: Bà Hồ Thị Á và ông Nguyễn Văn H1 có một con chung tên Nguyễn Ngọc Hồ Thục M, sinh ngày 26/01/1995. Hiện cháu M đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hồ Thị A - Nguyễn Văn H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Á đối với ông Nguyễn Văn H7 việc: “Ly hôn”.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 09/01/2026
V/v “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Bảo Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Sơn - Ông Trần Đình Hải

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Ngọc –Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Hương- Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 262/2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2025 về việc: “Ly hôn”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2025,giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:Bà Hồ Thị Á, sinh ngày 27/9/1973, Số CCCD: xxxxxxxxxxxx cấp ngày 10/5/2021.

Cư trú tại: C khu phố B P, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H1, sinh ngày 04/01/1971, Số CCCD: xxxxxxxxxxxx cấp ngày 01/3/2021.

Cư trú tại: C khu phố B P, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt,có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án nguyên đơn bà Hồ Thị Á1 bày:

Bà Hồ Thị Á và ông Nguyễn Văn H1 tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là xã N, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 22, quyển số 07/94 ngày 12/5/1994. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến khoảng năm 2017 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, cuộc sống vợ chồng luôn trong tình trạng căng thẳng. Ông bà đã tìm mọi cách để hòa giải, hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Hiện vợ chồng đã không còn chung sống với nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà Á khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

+ Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị Á yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn H1.

+ Về con chung: Bà Hồ Thị Á và ông Nguyễn Văn H2 một con chung tên Nguyễn Ngọc Hồ Thục M, sinh ngày 26/01/1995. Hiện cháu M đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Theo bản tự khai ngày 26//12/2025, bị đơn ông Nguyễn Văn H3 bày:

Ông Nguyễn Văn H4 bà Hồ Thị Á tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là xã N, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 22, quyển số 07/94 ngày 12/5/1994. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến khoảng năm 2017 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, cuộc sống vợ chồng luôn trong tình trạng căng thẳng. Ông bà đã tìm mọi cách để hòa giải, hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Nay bà Á yêu cầu ly hôn thì ông H1 đồng ý.

+ Về con chung: Bà Hồ Thị Á và ông Nguyễn Văn H2 một con chung tên Nguyễn Ngọc Hồ Thục M, sinh ngày 26/01/1995. Hiện cháu M đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đồng thời ông Nguyễn Văn H5 vắng mặt tại các buổi làm việc, phiên tòa của Tòa án.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, thời hạn giải quyết vụ án đã đảm bảo theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt, có đơn xin vắng mặt nên đề nghị tiến hành xét xử vắng mặtcác đương sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí:Nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

- Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật:Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, quan hệ pháp luật của vụ án được xác định là “Ly hôn” và thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh.

- Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Hồ Thị Á và ông Nguyễn Văn H1.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân:Bà Hồ Thị Á và ông Nguyễn Văn H1 tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là xã N, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 22, quyển số 07/94 ngày 12/5/1994, nên quan hệ hôn nhân của ông bà được xác định là hợp pháp.

Về mâu thuẫn vợ chồng: Theo các chứng cứ có trong hồ sơ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa ông H1, bà Á là có thật và bắt nguồn từ việc cả hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp trong tính tình, không quan tâm, chia sẻ với nhau. Toà án đã tiến hành hoà giải để vợ chồng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông H6 đến Tòa án làm việc, không có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng, đồng thời có đơn xin vắng mặt tại các buổi làm việc của Tòa án. Bà Á vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Tòa án không tiếp tục tiến hành hòa giải. Xét thấy mâu thuẫn giữa bà Á, ông H1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên cần áp dụng các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, để chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của bà Á.

Về việc nuôi con chung: Bà Hồ Thị Ánh vàông Nguyễn Văn H1 có một con chung tên Nguyễn Ngọc Hồ Thục M, sinh ngày 26/01/1995. Hiện cháu M đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Hồ Thị Ánh vàông Nguyễn Văn H6 yêu cầu nên Toà án không xem xét,giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Hồ Thị Á phải nộp án phí hôn nhân gia đình số tiền 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, 56, 57Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Á đối với ông Nguyễn Văn H7 việc: “Ly hôn”.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị Á được ly hôn với ông Nguyễn Văn H1.

1.2. Về con chung: Bà Hồ Thị Á và ông Nguyễn Văn H1 có một con chung tên Nguyễn Ngọc Hồ Thục M, sinh ngày 26/01/1995. Hiện cháu M đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Hồ Thị Á và ông Nguyễn Văn H6 yêu cầu giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân gia đình: Bà Hồ Thị Á phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 34505 ngày 04/11/2025của Thi hành án dân sự Thành phố H. Bà Á2 nộp xong án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minhxét xử phúc thẩm. (Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai)./.

Cỡ chữ