- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị H xin ly hôn anh T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị H, cho chị Dương Thị H được ly hôn với anh Trương Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - PHÚ THỌ _____________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2026/HNGĐ-ST Ngày 14/01/2026 V/v “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – PHÚ THỌ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Hồng Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Hùng Tuấn
Ông Đào Văn Kiểm
Thư ký Tòa án ghi biên bản: Bà Đỗ Thị Linh Chi - Cán bộ Tòa án nhân dân khu vực 1 – Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Đặng Trần Thành - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 14/01/2026 tại trụ sở TAND khu vực 1 - Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 60/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/QĐXX-HNGĐ ngày 12/12/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Dương Thị H, sinh năm 1973 Nơi thường trú: tổ 10B, khu S, phường T, tỉnh Phú Thọ Hôm nay, vắng mặt. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Trương Văn T, sinh năm 1963 Nơi thường trú: khu 6C, phường N, tỉnh Phú Thọ. Hôm nay, vắng mặt. Không có lý do. Hiện đang ở nước ngoài.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 10/9/2025 và bản tự khai tiếp theo chị Dương Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân:
Chị và anh Trương Văn T được tự do tìm hiểu và đã đăng ký kết hôn tại Sở Tư pháp, tỉnh Phú Thọ năm 2006. Sau khi kết hôn anh chị về chung sống với bố mẹ anh T tại khu 6 phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ nay là khu 6C, phường N, tỉnh Phú Thọ được khoảng thời gian ngắn. Sau đó do anh T đi làm ăn và sinh sống tại Đức nên anh T tiếp tục đi Đức làm ăn, còn chị ở nhà cùng bố mẹ anh T chỉ được một thời gian ngắn thì chuyển về ở với gia đình chị tại khu S, phường T, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ nay là phường T, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống sau kết hôn, tình cảm vợ chồng bình thường được khoảng 02 tháng thì anh T sang Đức. Kể từ khi anh T đi Đức vợ chồng chỉ điện thoại cho nhau chứ không còn chung sống cùng nhau. Qua điện thoại thì hai bên cũng có những bất đồng và không hợp nhau dẫn đến vợ chồng không còn liên lạc với nhau từ năm 2007 đến nay. Chị xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng và tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn nên chị xin được ly hôn với anh T.
* Về con chung: Chị H xác định vợ chồng không có con chung, không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị H xác định vợ chồng không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Chị H cung cấp thông tin anh Trương Văn T hiện nay đang ở nước ngoài nhưng chị không biết địa chỉ cụ thể. Chị đề nghị Tòa án tiến hành xác minh, thu thập thông tin cần thiết và địa chỉ của anh T tại nước ngoài qua anh trai ruột của anh T là ông Trương Văn Đ.
Tại các biên bản làm việc ngày 21/11/2025 và ngày 04/12/2025, ông Trương Văn Đ trình bày: Ông là anh trai ruột của anh Trương Văn T. Anh T thỉnh thoảng có gọi về cho ông qua mạng xã hội. Anh T hiện đang lao động tại nước ngoài, ông có hỏi nhưng anh T không nói cho ông biết địa chỉ cụ thể nên ông không cung cấp cho Tòa án được. Về việc chị H xin ly hôn ông có thông báo cho anh T biết, quan điểm của anh T là đồng ý ly hôn với chị H. Ông đồng ý nhận thay anh T các văn bản tố tụng của Tòa án và cam kết sẽ thông báo nội dung cho anh T.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Vụ án thụ lý đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay HĐXX, nguyên đơn tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn còn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình.
- Về đường lối giải quyết vụ án: Đại điện VKS đề nghị Hội đồng xét xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị H, cho chị Dương Thị H được ly hôn với anh Trương Văn T; Về con chung: Chị H xác định vợ chồng không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về tài sản chung, nợ chung, công sức: chị H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: chị Dương Thị H phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Đây là tranh chấp về việc “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Trương Văn T có hộ khẩu thường trú tại khu 6C, phường N, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ Công văn số 728/QLXNC-Đ1 ngày 04/11/2025 của Phòng Quản lý xuất nhập cảnh – Công an tỉnh Phú Thọ về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh, anh Trương Văn T đã xuất cảnh ngày 24/08/2025, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Theo quy định tại Điều 35, Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nên Tòa án nhân dân khu vực 1 – Phú Thọ thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Anh Trương Văn T hiện đang lao động ở nước ngoài nhưng chị H không cung cấp được địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành xác minh qua anh trai ruột của anh T là ông Trương Văn Đ. Ông Đ xác nhận anh T đang ở nước ngoài, vẫn liên lạc với ông nhưng ông không biết địa chỉ cụ thể nên không cung cấp cho Tòa án được. Căn cứ Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao, đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ nên Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị H và anh Trương Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở hai bên hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Sở Tư pháp, tỉnh Phú Thọ là phù hợp với luật hôn nhân gia đình Việt Nam. Theo chị H trình bày thì sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống H phúc. Đến khi anh T đi nước ngoài lao động thì vợ chồng xa nhau, dẫn đến mâu thuẫn. Xét thấy mâu thuẫn giữa anh chị đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, anh không còn quan tâm thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của người chồng với chị H. Mặt khác, ông Trương Văn Đ là anh trai ruột của anh Trương Văn T trình bày, ông đã thông tin cho anh T biết việc chị H xin ly hôn anh T, quan điểm của anh T là đồng ý ly hôn. Do đó, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H về việc được ly hôn anh T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về phía anh Trương Văn T mặc dù đã được Tòa án thông báo thụ lý vụ án và gửi các văn bản tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án cho anh T (do ông Trương Văn Đ là anh trai ruột của anh T nhận thay) để anh T thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình nhưng anh T không có mặt.
Về con chung: Chị H xác định vợ chồng không có con chung, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét nội dung này.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh T vắng mặt, không có quan điểm về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về án phí: Chị Dương Thị H phải chịu tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 39 Bộ luật dân sự; Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 37, 39, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56 và Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị H, cho chị Dương Thị H được ly hôn với anh Trương Văn T.
2. Về con chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Dương Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0002580 ngày 01/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Chị H đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Dương Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày; anh Trương Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 1 – Phú Thọ; - THADS tỉnh Phú Thọ; - Sở tư pháp tỉnh Phú Thọ; - Các đương sự; - UBND phường Thanh Miếu; - UBND phường N; - Lưu: HS, VP (10). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Phạm Hồng Vân |