vanban.org

Bản án 05/2025/HSST — Hình sự

TAND Q. Thốt Nốt, TP. Cần Thơ Tuyên án 17/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Quốc T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QU N TH T N T
THÀNH PH CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05 /2025/HSST
Ngày: 17 - 01 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QU N TH T N T - THÀNH PH CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kiệt

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hữu Đức

2. Bà Huỳnh Thị Mỹ Nhung

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhàn –Thư ký Toà án nhân dân quận

Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân qu n Th t N t - thành ph Cần Thơ

tham gia phiên toà: Ông Hồng Quốc Vệ - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 110/2024/HSST ngày 13 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Quốc T, sinh năm 1994; Giới tính: Nam; Cư trú: Khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Hòa hảo; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Họ tên cha: Nguyễn Văn B, sinh năm 1965 (sống); Họ tên mẹ: Trần Thị Tuyết M, sinh năm 1967 (sống); Chị ruột 02 người (lớn - sinh năm 1987, nhỏ - sinh năm 1992); Tiền án, tiền sự: chưa.

Bị tạm giữ, tạm giam tại Cơ quan tạm giữ, tạm giam - Công an quận T từ ngày 18/9/2024 cho đến nay. Có mặt.

Ng i bào ch a cho b cáo: Bà Lê Thị T1 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố C. Có mặt.

Ng i có quy n l i, nghĩa v liên quan: Bà Trần Thị Tuyết M , sinh năm 1965. Cư trú: Khu vực L, P. T, Q. T, Tp .. V ng mặt.

NỘI DUNG V ÁN:

Qua các tài li u có trong h s v án và quá trình xét h i, tranh lu n tại phiên tòa, nội dung v án đ c tóm t t nh sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 18/9/2024, do cần có ma túy để sử dụng, Trần Quốc T điện thoại cho người thanh niên tên L (chưa rõ họ tên, địa chỉ) mua 200.000 đồng ma túy, L đồng ý và hẹn giao dịch ở phía sau Bệnh viện đa khoa quận T (thuộc phường T, quận T, thành phố C). Sau đó, T đi xe honda khách từ nhà ngụ khu vực L, phường T, quận T đến điểm hẹn gặp L. Đến nơi hẹn, T đưa L 200.000 đồng; L nói với T đến gốc cây cách đó khoảng 10m để lấy ma túy. Triệu đến gốc cây lấy gói ma túy cầm trên tay phải và đi bộ để tìm xe honda khách về phường T, quận T. Trên đường đi gặp lực lượng chức năng tuần tra, do hoảng sợ nên T ném gói ma túy xuống đất thì bị Công an phường T và Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận T b t quả tang cùng tang vật. Công an tiến hành thu giữ:

- 01 gói nilon không màu hàn kín, bên trong có chứa tinh thể không màu.

- 01 điện thoại di động Nokia bàn phím màu xanh, Model: TA-1203, IMEI 357751100549176, không kiểm tra chất lượng bên trong.

Tại Kết luận giám định số 292/KL-KTHS ngày 26/9/2024 của Phòng K - Công an thành phố C, kết luận: Tinh thể không màu trong gói nilon gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,2618 gam.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng theo quy định.

Tại Cáo trạng Số 02/CT-VKS ngày 10/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ, truy tố Trần Quốc T về tội "Tàng tr trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị:

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

+ Xử phạt bị cáo Trần Quốc T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng t .

+ Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

- Về xử lý vật chứng:

+Tịch thu tiêu huỷ 01 gói được niêm phong Số 292/KL-KTHS ngày 26/9/2024 có đóng dấu của Phòng K - Công an thành phố C, bên trong chứa chất ma tuý

+Tịch thu của bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu nokia nàm phím màu xanh để sung ngân sách nhà nước, do bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy.

* Người bào chữa cho bị cáo tranh luận: Thống nhất tội danh và khung hình phạt mà Cáo trạng truy tố. Ngoài các tình tiết giảm nhẹ đại diện Viện kiểm sát đề nghị, cần xem x t hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn thuộc diện hộ cận ngh o; bị cáo là lao động chính trong gia đình; học vấn thấp nên nhận thức pháp luật hạn chế. Vì vậy, đề nghị xử mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

* Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì khác.

* Bị cáo nói lời nói sau c ng: Đã biết ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NH N Đ NH CỦA HỘI Đ NG X T X :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, x t hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng x t xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Trong điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo ph hợp với các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra.

Như vậy, có cơ sở xác định vào ngày 18/9/2024, bị cáo Trần Quốc T mua 200.000 đồng ma túy của người tên L (chưa rõ nhân thân), trên đường mang ma túy về nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện b t quả tang. Theo Kết luận giám định Số 292/KL-KTHS ngày 26/9/2024 của Phòng K - Công an thành phố C, kết luận: Tinh thể không màu trong gói nilon gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,2618 gam. Hành vi mà Trần Quốc T thực hiện thực hiện đã xâm phạm chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, việc truy tố, xét xử bị cáo về tội “Tàng trừ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội.

[3] X t thấy, tình hình tội phạm về ma tuý ngày càng diễn biến phức tạp, đối tượng phạm tội và sử dụng ma tuý phổ biến ở nhiều thành phần, độ tuổi. Hậu quả từ việc sử dụng trái phép chất ma tuý gây ra là rất nguy hiểm đối với xã hội, không những có tác hại đến sức khoẻ, người nghiện ma tuý còn dễ lâm vào ảo giác, làm nhiều hành động nguy hiểm cho người khác. Bản thân các bị cáo nhận được vấn đề này, nhưng vẫn cố ý sử dụng ma tuý bất chấp pháp luật ngăn cấm và xử lý. Do đó, cần phải xử phạt nghiêm minh để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Khi lượng hình, x t thấy bị cáo có sự thành khẩn trong khai báo, ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia đình khó khăn thuộc diện hộ cận ngh o; nên Hội đồng x t xử xem x t giảm nhẹ một phần hình phạt.

[4] Về hình phạt bổ sung: Không cần thiết áp dụng đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Như Kiểm sát viên nhận định và đề nghị trên đây là ph hợp, nên chấp nhận.

[6] Đối với tên L mà bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo, do chưa xác định được họ tên địa chỉ cụ thể nên không triệu tập được, Hội đồng x t xử kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm r , nếu có cơ sở thì xử lý theo quy định pháp luật. [7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử;

QUYẾT Đ NH:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Quốc T phạm tội “Tàng tr trái phép chất ma túy”.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Trần Quốc T 01 (một) năm t . Thời hạn t tính từ ngày 18/9/2023.

+ Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

2. Về xử v t ch ng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

+Tịch thu tiêu huỷ 01 gói được niêm phong Số 292/KL-KTHS ngày 26/9/2024 có đóng dấu của Phòng K - Công an thành phố C, bên trong chứa chất ma tuý.

+Tịch thu của bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu nokia na m phím màu xanh, để sung ngân sách nhà nước.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016;

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đ ng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (m i lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ