- Tranh chấp gì? án hình sự — "nguyen hong chuyen pham toi can tro giao thong duong bo - phạm tội cản trở giao thông đường bộ (điều 261 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng C phạm tội “Cản trở giao thông đường bộ”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 261 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8- BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ----------- Bản án số: 05/2025/HSST Ngày 17/7/2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8- BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu H.
Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị H bà Ngô Thùy P.
Thư ký phiên toà: Bà Hạp Thị Lan P- Thư ký TAND khu vực - B.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực- B tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đỗ D- Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 17 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8- Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 134/2025/TLST-HS ngày 26/6/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 14/7/2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Hồng Ch, sinh năm 1957; HKTT: Thôn M, xã M, thị xã Q, tỉnh Bh (nay là phường B, tỉnh B); Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn T, sinh năm 1919 (đã chết) và con bà Đào Thị T, sinh năm 1924 (đã chết); Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Nguyễn Thị P, sinh năm 1958; Con: Có 03 con. Con lớn nhất sinh năm 1981, con nhỏ nhất sinh năm 1987.
Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 14/4/2025 đến nay. Hiện bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Anh Đào Hữu D, sinh năm 1984 (đã chết); HKTT: Thôn T, xã M, thị xã Q, tỉnh B (nay là phường B, tỉnh B).
- Người đại diện theo ủy quyền của gia đình anh Đào Hữu D: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1988 (vợ anh D), HKTT: Thôn T xã M thị xã Q, tỉnh B (nay là phường B, tỉnh B), có đơn xin xử vắng mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn C, sinh năm 1987; HKTT: Thôn M, xã M, thị xã Q, tỉnh B, (nay là phường B, tỉnh B), có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 19/11/2024, Nguyễn Hồng C, sinh năm 1957, HKTT: Thôn M, xã M, thị xã Q tỉnh B khởi công xây dựng công trình nhà ở tại thôn M, xã M, thị xã Q cho con trai là anh Nguyễn C, sinh năm 1987. Quá trình xây dựng nhà ở, gia đình C thuê anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1970 ở cùng thôn M để quán xuyến việc thi công công trình và thuê mướn nhân công lao động. Hàng ngày, vợ chồng C thay phiên nhau đến công trình xây dựng để thăm nom, giám sát việc thi công. Ngày 28/11/2024 và khoảng 17 giờ ngày 03/12/2024, C trực tiếp tiếp nhận, trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn nhân viên giao hàng đặt, để trái phép vật liệu xây dựng gồm gạch và thanh sắt lấn chiếm lòng đường liên xã phía trước công trình xây dựng nhà ở của gia đình mình (lòng đường rộng 5m cho hai chiều xe chạy thì đống sắt C chỉ đạo người khác đặt, để phần rộng nhất chiếm 1,4m từ mép đường ra tâm đường, phần hẹp nhất chiếm 1m từ mép đường ra tâm đường, các kiêu gạch được đặt rải rác không liền nhau, kiêu gạch nhô ra lòng đường nhiều nhất là 30cm tính từ mép đường). Sau khi tiếp nhận, C không di chuyển các nguyên vật liệu đến nơi đảm bảo an toàn, không đặt đèn, biển báo cho người, phương tiện di chuyển qua biết có chướng ngại vật trên đường.
Đến khoảng 22 giờ 10 phút tối cùng ngày 03/12/2024, anh Đào Hữu D điều khiển xe mô tô BKS: 99E1-282.49 đi ở phần đường bên phải trên đường liên xã theo hướng Trường THPT Q số 3 đi thôn T, khi đi qua khu vực nhà ở đang xây dựng của gia đình ông C, do trời tối, không có đèn, biển cảnh báo, bên cạnh đó anh D không chú ý quan sát và điều khiển xe mô tô mà trong máu có nồng độ cồn 205mg/100ml máu nên đã va chạm vào các thanh kim loại của gia đình ông C đặt ở dưới lòng đường bên phải khiến anh D không làm chủ được phương tiện và tiếp tục va chạm vào kiêu gạch của gia đình ông C đặt ở rìa đường bên phải. Sau khi va chạm, anh D và chiếc xe mô tô bị trượt rê đổ trên mặt đường. Hậu quả, anh D bị thương được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đến ngày 06/12/2024 thì tử vong.
* Khám nghiệm hiện trƣờng: Hiện trường vụ việc trên xảy ra tại đường liên xã thuộc địa phận thôn M, M, Q, B. Mặt đường thẳng dải bê tông nhựa khô, rộng 05m dành cho hai chiều xe cơ giới chạy hai chiều. Trên mặt đường nơi xảy ra tai nạn có đặt, để các thanh kim loại và các kiêu gạch ở dưới lòng đường phía bên phải tính theo chiều từ Trường THPT Q đi UBND xã M.
Chọn cột điện ký hiệu “27/110-Mai Ổ” đặt ở rìa đường bên phải đường liên xã tính theo chiều hướng từ UBND xã M đi Trường THPT Q làm điểm mốc cố định. Chọn mép đường bên phải đường liên xã tính theo chiều hướng UBND xã M địa phận thôn M, M, Q, B làm mép đường chuẩn để đo đạc vị trí, dấu vết và phương tiện trên hiện trường.
- Mô tả thứ tự, vị trí, dấu vết, phương tiện, nạn nhân theo số tự nhiên:
+ Đám cày xước KT(8,7mmx60cm): Ở trên mặt đường. Điểm khởi đầu đám cày xước hướng Trường THPT Q, điểm kết thúc đám cày xước hướng vào xe môtô số (2). Điểm khởi đầu đám cày xước cách mép đường chuẩn 3,7m.
+ Vị trí xe môtô mang biển kiểm soát 99E1-282.49: Xe ở tư thế đổ sang trái xuống mặt đường. Phần đầu xe hướng Trường THPT Q, hơi chếch vào mép đường chuẩn; phần đuôi xe hướng UBND xã M, hơi chếch ra tâm đường. Đầu trục giữa bên phải bánh lốp trước xe cách mép đường chuẩn 70cm; đầu trục giữa bên phải bánh lốp sau xe cách mép đường chuẩn 1,1m, cách điểm vuông góc với chân cột mốc cố định là 4,1m, từ điểm vuông góc với chân cột mốc cố định là 4,2m.
+ Vùng máu KT(30cmx20cm): Ở trên mặt đường. Điểm gần nhất cách mép đường chuẩn 3,7m và cách đầu trục giữa bên phải bánh lốp sau xe môtô số (2) là 2,7m.
+ Vị trí đặt kiêu gạch đỏ KT(1,25mx01m): Được đặt tại vị trí sát mép đường phía đối diện mép đường chuẩn, xung quanh kiêu gạch được quấn nilon màu trắng. Một phần kiêu gạch ở trên rìa đường, phần còn lại rộng 20cm nằm ở trên mặt đường. Trên bề mặt phía ngoài kiêu gạch bị xô lệch, vị trí xô lệch cách mặt đường 40cm, trên vị trí xô lệch có dấu vết gạch bị vỡ nhỏ, điểm gần nhất cách mặt đường 01m.
+ Vùng vỡ KT(1,5mx40cm): Ở trên mặt đường, tại vị trí dưới kiêu gạch số (4) và ở khu vực giữa đám cày xước số (1) và kiêu gạch số (4).
+ Vị trí đặt kiêu gạch đỏ KT(1,25mx01m): Được đặt tại vị trí sát với kiêu gạch số (4). Một phần kiêu gạch ở trên rìa đường, phần còn lại rộng 30cm nằm ở trên mặt đường, điểm gần nhất cách mép đường chuẩn 4,7m.
+ Vị trí đặt các thanh kim loại trên mặt đường: Gồm nhiều thanh kim loại màu đen xám đặt đè lên nhau sát với vị trí kiêu gạch số (8). Khu vực đặt các thanh kim loại dài 12m trên mặt đường, phần đầu phía UBND xã Mộ Đạo rộng 1,4m nằm ở trên mặt đường; phần đầu phía Trường THPT Quế Võ số 3 rộng 01m nằm trên mặt đường.
* Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q tạm giữ:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn trắng đen bạc, số máy: HC12E7025609, số khung: RLHHC1256FY025536, BKS: 99E1-282.49; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 006989 mang tên chủ xe Nguyễn Văn P.
- 01 thanh kim loại màu đen xám dài 1,44m, đường kính 0,8cm; 01 viên gạch đất nung hình chữ nhật đặc lõi màu đỏ cam kích thước (20x10)cm.
* Trƣng cầu giám định:
- Trên cơ sở Quyết định trưng cầu giám định của Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ xác định nguyên nhân chết của anh Đào Hữu D. Tại Bản kết luận giám định tử thi số: 203/KL-KTHS ngày 30/12/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận: “Nguyên nhân chết của anh Đào Hữu D là do chấn thương sọ não nặng.”
- Tại Bản kết luận giám định số 171/KL-KTHS ngày 29/12/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận: “Chất màu nâu đỏ thu giữ tại hiện trường vụ tai nạn giao thông (Ký hiệu A) gửi giám định là máu người, nhóm máu B cùng nhóm với mẫu máu thu giữ của Đào Hữu Dưỡng gửi làm mẫu so sánh (Ký hiệu M).”
- Tại Bản kết luận giám định số: 415/KL-KTHS ngày 22/01/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B về điểm va chạm và cơ chế hình hình dấu vết tại điểm va chạm kết luận: “Dấu vết trượt tại mặt lăn, mặt thành lốp bên phải bánh trước trên xe môtô biển số 99-E1 282.49 (ảnh 5 trong bản ảnh giám định) có chiều từ mặt lăn vào thành lốp, phù hợp với dấu vết trượt, bám chất màu đen tại mặt ngoài thanh thép trên mặt đường tại hiện trường (ảnh 6 trong bản ảnh giám định). Dấu vết va chạm trên thanh thép tại vị trí này có chiều từ trên xuống dưới; Dấu vết trượt xước, bám chất màu đỏ gạch tại mặt trước ngoài đầu tay lái bên phải trên xe môtô biển số 99-E1 282.49 (ảnh 11 trong bản ảnh giám định) có chiều từ trước về sau tay lái, phù hợp với dấu vết xước, vỡ tại góc ngoài kiêu gạch số 4 tại hiện trường (ảnh 12 trong bản ảnh giám định). Dấu vết va chạm trên kiêu gạch tại vị trí này có chiều từ Trường trung học phổ thông Q đến Uỷ ban nhân dân xã M) Không phát hiện thấy dấu vết va chạm với phương tiện khác trên xe môtô biển số 99-E1 282.49.”
- Tại Bản kết luận giám định số 142/KL-KTHS ngày 27/12/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B giám định kỹ thuật hình sự đối với mẫu vật thu giữ trên phương tiện xe môtô mang biển kiểm soát 99E-282.49 với đồ vật, tài liệu thu giữ tại hiện trường vụ việc kết luận: “Chất màu đen bám dính tại thanh kim loại (Ký hiệu A1) gửi giám định là cao su, cùng loại với mẫu chất liệu lốp bánh trước xe môtô mang biển kiểm soát 99E-282.49 (Ký hiệu M1) gửi làm mẫu so sánh; Chất màu trắng bạc bám dính tại viên gạch đất nung (Ký hiệu A2) gửi giám định là sơn, cùng loại với mẫu sơn màu ngoài giảm sóc bên phải bánh trước xe môtô mang biển kiểm soát 99E-282.49 (Ký hiệu M2) gửi làm mẫu so sánh; Chất màu đỏ gạch thu giữ tại đầu tay lái bên phải, đầu tay phanh và mặt trước ngoài giảm sóc bên phải bánh trước xe môtô mang biển kiểm soát 99E-282.49 (Ký hiệu A3) gửi giám định là gạch, cùng loại với viên gạch đất nung (Ký hiệu M3) gửi làm mẫu so sánh.”
- Tại Bản kết luận giám định số 456/KL-KTHS ngày 03/02/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận: “Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tệp video mẫu cần giám định; Không xác định được tốc độ xe môtô theo yêu cầu giám định.”
- Tại Công văn số 1169/CV-PC09 phúc đáp lại công văn số 4995/CV-VPCQCSĐT của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B về việc làm rõ vị trí xảy ra va chạm tại hiện trường xác định:
“(1) Tại Kết luận giám định số 415/KL-KTHS ngày 22/01/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự xác định: Dấu vết trượt tại mặt lăn, mặt thành lốp bên phải bánh trước trên xe môtô biển số 99-E1 282.49 (ảnh 5 trong bản ảnh giám định) có chiều từ mặt lăn vào thành lốp, phù hợp với dấu vết trượt, bám chất màu đen tại mặt ngoài thanh thép trên mặt đường tại hiện trường (ảnh 6 trong bản ảnh giám định). Dấu vết va chạm trên thanh thép tại vị trí này có chiều từ trên xuống dưới.
+ Vị trí va chạm giữa xe môtô biển số 99-E1 282.49 với thanh thép (tạo nên dấu vết nêu tại mục (1) tại hiện trường là trên mặt đường liên xã Mộ Đạo, phần đường chiều từ Trường THPT Q đi UBND xã M, tại vị trí dấu vết trượt kích thước (103 x 0,7)cm trên thanh thép, cách mép đường chuẩn 1,39m.
(2) Tại Kết luận giám định số 415/KL-KTHS ngày 22/01/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự xác định: Dấu vết trượt xước, bám chất màu đỏ gạch tại mặt trước ngoài đầu tay lái bên phải trên xe môtô biển số 99-E1 282.49 (ảnh 11 trong bản ảnh giám định) có chiều từ trước về sau tay lái, phù hợp với dấu vết xước, vỡ tại góc ngoài kiêu gạch số 4 tại hiện trường (ảnh 12 trong bản ảnh giám định). Dấu vết va chạm trên kiêu gạch tại vị trí này có chiều từ Trường trung học phổ thông Quế Võ số 3 đến Uỷ ban nhân dân xã Mộ Đạo.
+ Vị trí va chạm giữa xe môtô biển số 99-E1 282.49 với kiêu gạch (tạo nên dấu vết nêu tại mục (2) tại hiện trường là trên mặt đường liên xã Mộ Đạo, phần đường chiều từ Trường THPT Q đi UBND xã M vị trí dấu vết số 1 trên kiêu gạch số 4.”.
- Tại công văn số 1150/CV-PC09 ngày 29/5/2025 phúc đáp lại công văn số 4994/CV-VPCQCSĐT của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B về cơ chế hình thành thương tích trên cơ thể tử thi xác định:
“+ Cơ chế hình thành dấu vết: Các vết sây sát, bầm tụ máu trên cơ thể anh Đào Hữu Dưỡng do vật tày gây nên.
+ Thương tích dẫn đến nguyên nhân chết của anh Đào Hữu D do chấn thương sọ não. Không đủ cơ sở đánh giá thương tích trên do vật nào trên hiện trường gây nên”
- Tại Công văn phúc đáp số 169/CV-QLĐT ngày 26/02/2025 của Phòng Quản lý đô thị thị xã Q xác định:
“+ Nơi xảy ra vụ việc tại đường liên xã thuộc địa phận thôn M, M, Q B hiện tại không đặt các biển báo giao thông đường bộ nào. Khu vực là đường trục liên xã nằm gần trường THPT Q và hai bên đường đều có dân cư ở, là đoạn đường có đông dân cư sinh sống sát dọc theo đường, đường trong khu vực đông dân cư theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT;
+ Theo khoản 2, khoản 3 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định các hành vi nghiêm cấm “Để trái phép vật liệu, lấn chiếm hoặc sử dụng trái phép đất của đường bộ, hành lang an toàn đường bộ. Sử dụng lòng đường, lề đường, hè phố trái phép”.
- Tại Công văn số 3460 ngày 20/12/2024 của Sở Giao thông vận tải tỉnh B tra cứu cung cấp thông tin về giấy phép lái xe của ông Đào Hữu D. Kết quả tra cứu: “Anh Đào Hữu D chưa được cấp giấy phép lái xe theo quy định.”
- Quá trình xác minh, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q đề nghị Bệnh viện đa khoa tỉnh B cung cấp giấy chứng nhận thương tích và hồ sơ bệnh án trong quá trình điều trị thương tích đối với anh Đào Hữu Dưỡng. Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu ngày 03/12/2024 là 205mg/100ml máu; kết quả xét nghiện ma tuý ngày 03/12/2024 là âm tính.
Với nội dung trên, bản cáo trạng số: 75/CT-VKSQV ngày 24/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực - B) truy tố Nguyễn Hồng C về tội “Cản trở giao thông đường bộ” theo điểm a, khoản 1, Điều 261 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Cản trở giao thông đường bộ” theo điểm a, khoản 1, Điều 261 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Người đại diện theo ủy quyền của gia đình người bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin vắng mặt, lời trình bày có trong hồ sơ thể hiện: Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình anh Đào Hữu D số tiền 60.000.000 đồng; Đại diện gia đình anh D đã nhận đầy đủ số tiền trên, không có yêu cầu gì thêm đồng thời có đơn đề nghị xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo C.
Anh Nguyễn C: Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không có yêu cầu gì thêm.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8- Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại và được gia đình bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự; bị cáo là người hoạt động kháng chiến bị giảm khả năng lao động 61% (bệnh binh 2/3), hiện đang phải điều trị ngoại trú bệnh ung thư dạ dày và là người có công với cách mạng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đây là những tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình là hoàn toàn phù hợp pháp luật, do vậy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho bị cáo hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện để cải tạo bị cáo thành công dân tốt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực- B vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng C phạm tội “Cản trở giao thông đường bộ”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 261; điểm i, b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng C từ 08 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 đến 20 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về vật chứng vụ án: - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn trắng đen bạc, BKS: 99E1-282.49; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 006989 mang tên chủ xe Nguyễn Văn P. Đầu năm 2024, anh Phú cho chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1988, HKTT: T, xã M, thị xã Q (là vợ của anh D) mượn chiếc xe mô tô nêu trên để sử dụng làm phương tiện đi lại, chị H và anh P không biết việc anh D tự ý lấy chiếc xe trên để sử dụng đi sau đó xảy ra tai nạn. Ngày 21/01/2025, cơ quan CSĐT Công an thị xã Q đã trả lại xe cho anh P, anh P nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường đối với hư hỏng của xe.
- Đối với 01 thanh kim loại màu đen xám dài 1,44m, đường kính 0,8m; 01 viên gạch đất nung hình chữ nhật, đặc lõi, màu đỏ cam KT(20x10)cm. Quá trình điều tra xác định là tài sản của gia đình Nguyễn Hồng C. Ngày 25/12/2024, cơ quan CSĐT Công an thị xã Q đã trả lại tài sản trên cho gia đình do C nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì.
- Đối với 01 file video ghi hình có liên quan đến vụ tai nạn giao thông ngày 03/12/2024 được lưu trong hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo được miễn toàn bộ án phí HSST theo quy định pháp luật.
Bị cáo nhận tội, không tham gia tranh luận gì với quan điểm của Kiểm sát viên. Bị cáo chỉ xin hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng: Đã thực hiện đúng theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vậy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với không gian, thời gian, địa điểm, phù hợp lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của những người làm chứng, biên bản khám nghiệm tử thi, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 03/12/2024, tại đường liên xã thuộc địa phận thôn M, xã M thị xã Q tỉnh B, Nguyễn Hồng C là người trực tiếp tiếp nhận, chỉ đạo, hướng dẫn người khác đặt, để trái phép vật liệu xây dựng gồm gạch và thanh sắt lấn chiếm lòng đường liên xã (lòng đường rộng 5m cho hai chiều xe chạy), đống sắt C chỉ đạo người khác đặt, để phần rộng nhất chiếm 1,4m từ mép đường ra tâm đường, phần hẹp nhất chiếm 1m từ mép đường ra tâm đường, các kiêu gạch được đặt rải rác không liền nhau, kiêu gạch nhô ra lòng đường nhiều nhất là 30cm tính từ mép đường) sau đó Chuyên không di chuyển, tập kết nguyên vật liệu đến nơi đảm bảo an toàn, không đặt đèn, biển báo cho người, phương tiện di chuyển qua biết có chướng ngại vật trên đường dẫn đến xe mô tô BKS: 99E1-282.49 do anh Đào Hữu D điều khiển đi trên đường liên xã theo hướng Trường THPT Q đi thôn T đâm vào. Hậu quả, anh Dưỡng bị thương được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh đến ngày 06/12/2024 thì tử vong. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q (Viện kiểm sát nhân dân khu vực - B) truy tố và đề nghị xét xử bị cáo Nguyễn Hồng C về tội “Cản trở giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 261 Bộ luật hình sự là hoàn toàn chính xác, có căn cứ pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông và lưu thông của các phương tiện trên đường, ảnh hưởng đến tính mạng, sức khoẻ của người tham gia giao thông được pháp luật bảo vệ. Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước đang hội nhập kinh tế quốc tế, phương tiện tham gia giao thông tăng cả về số lượng và chủng loại, vì thế người tham gia giao thông phải chấp hành nghiêm các quy định về đảm bảo an toàn giao thông. Trong lúc tình hình tai nạn giao thông ngày càng gia tăng, Nhà nước đã có chủ trương yêu cầu các cơ quan chức năng tuyên truyền cảnh báo đến mọi người dân cần nêu cao tinh thần chấp hành Luật giao thông đường bộ khi tham gia giao thông trên đường.
Bị cáo Nguyễn Hồng C trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn người khác đặt, để trái phép vật liệu xây dựng gồm gạch và thanh sắt lấn chiếm lòng đường liên xã phía trước công trình xây dựng nhà ở của gia đình mình, không đặt đèn, biển báo cho người, phương tiện di chuyển qua biết có chướng ngại vật trên đường đã vi phạm khoản 2 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ năm năm 2008 làm chết 01 người. Vì vậy đã phạm tội “Cản trở giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1, Điều 261 Bộ luật hình sự.
Về phía người bị hại cũng có một phần lỗi, anh Đào Hữu D điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe, trong máu có nồng độ cồn (nồng độ 205mg/100ml máu) không chú ý quan sát đã vi phạm khoản 8, khoản 9 và khoản 23 điều 8 Luật giao thông đường bộ năm 2008.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải. Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo tích cực khắc phục hậu quả tự nguyện bồi thường cho gia đình những người bị hại số tiền là 60.000.000 đồng, đại diện gia đình những người bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ TNHS cho bị cáo. Hơn nữa bị cáo là người hoạt động kháng chiến bị giảm khả năng lao động 61% (bệnh binh 2/3), hiện đang phải điều trị ngoại trú bệnh ung thư dạ dày và là người có công với cách mạng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS, do vậy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho bị cáo hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện để cải tạo bị cáo thành công dân tốt.
Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
Về vật chứng vụ án: - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn trắng đen bạc, BKS: 99E1-282.49; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 006989 mang tên chủ xe Nguyễn Văn P. Đầu năm 2024, anh Phú cho chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1988, HKTT: T, xã M, thị xã Q (là vợ của anh D) mượn chiếc xe mô tô nêu trên để sử dụng làm phương tiện đi lại, chị H và anh P không biết việc anh D tự ý lấy chiếc xe trên để sử dụng đi sau đó xảy ra tai nạn. Ngày 21/01/2025, cơ quan CSĐT Công an thị xã Q đã trả lại xe cho anh P, anh P nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường đối với hư hỏng của xe.
- Đối với 01 thanh kim loại màu đen xám dài 1,44m, đường kính 0,8m; 01 viên gạch đất nung hình chữ nhật, đặc lõi, màu đỏ cam KT(20x10)cm. Quá trình điều tra xác định là tài sản của gia đình Nguyễn Hồng C. Ngày 25/12/2024, cơ quan CSĐT Công an thị xã Q đã trả lại tài sản trên cho C, C nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì.
(Đối với 01 file video ghi hình có liên quan đến vụ tai nạn giao thông ngày 03/12/2024 được lưu trong hồ sơ vụ án).
Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 261; điểm i, b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng C phạm tội “Cản trở giao thông đường bộ”
3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng C 08 (Tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng (Mười sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND phường B, tỉnh B giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
(Đối với 01 file video ghi hình có liên quan đến vụ tai nạn giao thông ngày 03/12/2024 được lưu trong hồ sơ vụ án).
4. Bị cáo được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện của gia đình người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh, VKSND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND khu vực 8- Bắc Ninh; - Công an tỉnh Bắc Ninh (Phòng PC10); - Phòng THADS khu vực 8-Bắc Ninh; - Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác; - Lưu HS, VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hồng |