- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bình - MT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ M TỈNH H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2025/HSST. Ngày: 21/01/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ M - TỈNH H
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tân Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Xuân Hùng và ông Nguyễn Xuân Khải
Thư ký phiên toà: Ông Lê Mạnh Hùng- Thư ký Tòa án nhân dân Thị xã M, tỉnh H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thị xã M, tỉnh H tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thuỳ Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Thị xã M, mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn B- Sinh năm 1996, tại Hà Nội; Hộ khẩu thường trú: tổ dân phố Ng, phường Ph, thị xã M, tỉnh H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ và tên bố: Nguyễn Văn B (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H (đã chết); Vợ, con: chưa có
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/9/2024, tạm giam từ ngày 26/9/2024 tại Nhà tạm giữ Công an Thị xã M, tỉnh H (Có mặt tại phiên toà).
* Người làm chứng:
1- Ông Nguyễn Văn R, sinh năm: 1961
Địa chỉ: Tổ dân phố Ng, phường B, thị xã M, tỉnh H
2-Anh Trần Tuấn Anh, sinh năm: 1995
Địa chỉ: Tổ dân phố Tr, phường D, thị xã M, tỉnh H.
(Toàn bộ những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài hiệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn B là đối tượng nghiện ma túy và không có nghề nghiệp ổn định. Bình tự khai: Khoảng 15 giờ ngày 20/9/2024, Bình đang ở nhà thì có bạn là Trần Tuấn Anh, sinh năm 1995, nơi thường trú ở tổ dân phố Trại, phường Dị Sử, Thị xã M, tỉnh Hưng gọi cho Bình qua ứng dụng Zalo hỏi Bình “có ở nhà không?” thì Bình trả lời là “đang ở nhà”. Sau đó, Tuấn Anh một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream sang nhà bình chơi, mang theo ma túy đá và các dụng cụ để sử dụng ma túy đến nhà của Bình rồi cả hai cùng sử dụng ma túy. Đến khoảng 16 giờ 30 cùng ngày, sau khi sử dụng hết một phần ma túy đá mà Tuấn Anh mang sang, Tuấn Anh bảo Bình sang nhà mình để uống rượu và khi đi thì cầm theo số ma túy đá còn lại để tiếp tục sử dụng, Bình đồng ý. Sau đó, Tuấn Anh điều khiển xe máy đi về trước còn Bình cầm gói ma túy đựng trong 01 túi zip có viền màu xanh, bọc trong một khẩu trang màu trắng đút vào túi quần phía trước, bên phải mà Bình đang mặc rồi đi bộ một mình sang nhà Tuấn Anh.
Đến khoảng 16 giờ 50 phút cùng ngày, khi Bình đi đến đoạn đường trước cửa số nhà 1491 thuộc tổ dân phố Trại, phường Dị Sử, Thị xã M, tỉnh H thì bị Công an Thị xã M phối hợp với Công an phường Dị Sử kiểm tra phát hiện bắt quả tang Bình đang tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Vật chứng thu giữ: 01 túi nilon màu trắng, có viền màu xanh (dạng túi zip) chứa chất tinh thể màu trắng dạng cục, bột bọc bên ngoài là 01 khẩu trang vải tại túi quần phía trước bên phải của Bình, niêm phong ghi ký hiệu “M”; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone12 promax màu đen, bên trong lắp sim số 0384707816.
Ngày 20/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thị xã M đã cho Nguyễn Văn B chỉ dẫn đến nhà của Trần Tuấn Anh. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thị xã M tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Bình và Tuấn Anh, kết quả: Không phát hiện thu giữ gì.
Kết quả xét nghiệm sinh hóa ngày 20/9/2024 xác định Bình dương tính với ma túy đá.
Tại bản thông báo kết luận sơ bộ số 616/KL-KTHS(MT) ngày 20/9/2024 và Kết luận giám định số 616/KL-KTHS(MT) ngày 23/9/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ghi ký hiệu “M”, có khối lượng 0,143g (không phẩy một bốn ba gam) là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu hoàn lại được niêm phong trong một niêm phong ghi số 616/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,135g (không phẩy một ba năm gam) ma túy, loại Methamphetamine trong niêm phong ghi ký hiệu “M”; 01 túi nilon màu trắng có đường viền màu xanh ở miệng túi đựng ma túy; 01 khẩu trang vải màu trắng và 01 vỏ niêm phong gửi giám định giao cho Công an Thị xã M, tỉnh H quản lý theo quy định của pháp luật.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thị xã M đã cho Tuấn Anh và Bình đối chất nhưng không có đủ căn cứ xác định Tuấn Anh đã đem ma túy đến nhà Bình và cùng Bình sử dụng ma túy như Bình đã khai.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone12 promax màu đen, bên trong lắp sim số 0384707816. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của Bình và Bình đề nghị được nhận lại.
Bản cáo trạng số: 03/CT-VKSMH ngày 06/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Thị xã M đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay:
Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thị xã M đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B 01 năm 03 tháng – 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 20/9/2024.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị về vật chứng, án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thị xã M và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Thị xã M và kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện nên đều hợp pháp.
- Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định; Phù hợp với lời khai của những người làm chứng, cùng các tài liệu có trong hồ sơ nên có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 16 giờ 50 phút ngày 20/9/2024, tại đoạn đường trước cửa số nhà 1491 thuộc tổ dân phố Trại, phường Dị Sử, Thị xã M, tỉnh H, Nguyễn Văn B có hành vi tàng trữ trái phép trên người 0,143g (không phẩy một bốn ba gam) ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Viện kiểm sát nhân dân Thị xã M đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
- Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo phạm tội độc lập, tội phạm đã hoàn thành, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma tuý được bộ luật hình sự bảo vệ, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ tác hại của ma tuý không những gây cảnh nghiện ngập làm cho kinh tế gia đình kiệt quệ, hạnh phúc gia đình bị đổ vỡ, ma tuý còn là nguyên nhân phát sinh các vụ phạm pháp hình sự, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương và là nguyên nhân lây nhiễm các căn bệnh xã hội. Nhưng chỉ vì mục đích thoả mãn cơn nghiện của bản thân mà bị cáo cố ý phạm tội. Do đó cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo, nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo sớm trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và làm bài học cho các hành vi khác tương tự có thể xảy ra.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh và tại phiên toà có đủ căn cứ xác định bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản riêng nên hội đồng xét xử sẽ miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Số ma túy Heroin được niêm phong trong phong bì hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên cho tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc điện thoại di động của bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội, bị cáo xin nhận lại nên Hội đồng xét xử sẽ trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
* Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự.
* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
* Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B 01 (Một) năm 03( Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 20/9/2024.
* Vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
-Tịch thu tiêu hủy số ma túy 0,135g (không phẩy một ba năm gam) ma tuý loại Methamphetamine trong niêm phong ký hiệu “ M”, 01 túi nilon màu trắng có viền màu xanh ở miệng túi đựng ma tuý; 01 khẩu trang vải màu trắng và 01 niêm phong gửi giám định.
- Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro max màu đen có số IMEI 359237632094780 bên trong lắp 01 sim đã qua sử dụng.
(Tình trạng đặc điểm các vật chứng được mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/01/2025 tại chi cục thi hành án dân sư Thị xã M).
* Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
* Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND Thị xã M; - Cơ quan CSĐT -CA Thị xã M; - Cơ quan T.H.A HS-CA Thị xã M; - Chi cục T.H.A DS Thị xã M; - Phòng KTNV và T.H.A - Tòa án tỉnh H; - Bị cáo; - Lưu HS vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Tân Huyền |