vanban.org

Bản án 05/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 19/11/2024). Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HS-ST
Ngày 14 - 8 - 2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quang Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Nam và bà Dương Thị Mai Hương.

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Bé - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Quảng Trị tham gia phiên toà: Bà Hồ Thiên Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 7 - Quảng Trị xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2025/TLST-HS ngày 30/6/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 03/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2025 và Thông báo số 01/TB-TA ngày 28/7/2025 về việc thay đổi thời gian phiên tòa, đối với bị cáo:

Nguyễn Quang T, sinh ngày 13/4/2001, tại tỉnh Quảng Trị; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: khóm AH, xã LB, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Đầu bếp; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Quang V, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1976; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; Có vợ là Đinh Thị Như Q, sinh năm 2001; Có 01 con, sinh năm 2023.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 19/11/2024, chuyển tạm giam từ ngày 28/11/2024 tại phân trại tạm giam Hướng Hóa, Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1984; Trú tại: khóm TK, xã LB, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

Anh Trương Đại N, sinh năm 2007; Trú tại: khóm DT, xã LB, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

Chị Lê Thị Mỹ Y, sinh năm 1984; Trú tại: khóm TC, xã LB, tỉnh Quảng Trị. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Lê Bá H, sinh năm 2003; Trú tại: thôn BLĐ, xã LB, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 20 giờ 15 phút ngày 18/11/2024, Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo phối hợp với lực lượng chức năng thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội trên địa bàn thị trấn Lao Bảo. Khi tổ tuần tra đến địa điểm nhà ông Nguyễn Quang T ở đường Lê Quý Đôn thuộc khóm An Hà, xã Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị phát hiện bên trong nhà có dấu hiệu của hoạt động sử dụng ma tuý nên đã tiến hành kiểm tra, tại trong phòng ngủ thứ hai phát hiện Nguyễn Quang T đang ngồi trên giường, cầm 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu xanh, trong phòng có để 01 bàn tròn dạng 04 chân xếp được đặt trên 01 chiếu tre trải trên nền nhà lát gạch. Trên mặt bàn có: 01 khay nhựa màu đen có kích thước 36x23x03cm, bên trên khay nhựa có một số vật dụng cá nhân không liên quan; 01 bật lửa ga màu tím, đã qua sử dụng; 01 túi ni lon màu xanh, dạng túi Zip kích thước 5,3x 4,5cm, trên bề một mặt miệng túi có viền ngang màu đỏ, trong tình trạng đóng kín miệng, bên trong có chứa 03 viên nén hình trụ tròn màu hồng, nghi là ma tuý tổng hợp (được niêm phong, ký hiệu MTT); 01 túi ni lon màu xanh, dạng túi Zip kích thước 09x 6,5cm, trên bề một mặt miệng có viền ngang màu đỏ, trong tình trạng đóng kín miệng, bên trong có chứa các viên nén hình trụ tròn màu hồng nghi là ma tuý tổng hợp và 01 viên nén hình trụ tròn màu xanh (được niêm phong, ký hiệu MTT). Bên dưới chân bàn phía Đông có 01 chai nhựa màu xanh, không có nắp, ở phần miệng chai có khuyên nhựa màu trắng, có kích thước đường kính miệng 2,5cm, đường kính đáy 05cm, cao 21,5cm, trên thân chai tại vị trí 1/3 dưới có 01 điểm thủng có giắt 01 ống tre có kích thước 10cm, một phần ống tre nhô ra bên ngoài, đầu ống tre được vát chéo, đối tượng khai nhận là dụng cụ dùng để sử dụng ma tuý một mình vào chiều ngày 18/11/2024. Tại vị trí chân bàn phía Nam có 01 ly gốm hình phểu, màu trắng, hoa văn màu xanh, bên trong đựng tàn thuốc lá, rác thải sinh hoạt, 01 mảnh giấy kẽm màu trắng, trên bề mặt có bám muội than đen là dụng cụ để sử dụng ma tuý. Bên cạnh ly gồm có 01 hộp kim loại hình oval màu hồng, có kích thước 08x06x02 cm, trong tình trạng đóng kín, bên trong có các mảnh giấy kẽm, trên bề mặt mỗi mảnh giấy kẽm có bám muội than đen, là dụng cụ dùng để sử dụng ma tuý

Quá trình điều tra Nguyễn Quang T khai nhận: Khoảng 14 giờ 34 phút, ngày 18/11/2024, T sử dụng tài khoản Messenger tên “Trí Nguyễn” của T, nhắn tin đến tài khoản Messenger tên “Chu Văn An” của K, nội dung “Tài để lại gói 1tr5 à?”, ý hỏi K có phải bán 01 gói (khoảng 200 viên) ma túy tổng hợp với giá 1.500.000 đồng hay không; K nhắn tin trả lời “ừ”. Sau đó, T tiếp tục nhắn tin cho K, đặt mua 01 gói ma túy tổng hợp để bản thân sử dụng, đề nghị K cho T trả 1.000.000 đồng trước 18 giờ, còn lại 500.000 đồng trả trong tối cùng ngày, K đồng ý. T tiếp tục đề nghị K nếu có xe để đi thì đưa ma túy đến cho T, K nhắn tin “Đợi cho xí”. Khoảng 15 giờ cùng ngày, T dùng tài khoản Messenger của T, gọi điện đến tài khoản tên “Dầm” của Lê Bá H rủ H đến nhà T chở T đi chơi và đi mua đồ ăn, H đồng ý. Sau khi điện thoại cho H, T nhận được tin nhắn của K, nội dung “Tới sau nhà e lap đi”, T hiểu K hẹn đến nhà Nguyễn Đức P để giao dịch mua, bán ma túy như đã thỏa thuận trước đó. Do không có phương tiện để đi, nên T nhắn cho K nội dung “Đợi miềng xí”. Sau đó, K nhắn tin nhờ T mua 02 ly chè thập cẩm đưa đến cho K, T đồng ý. Khoảng 15 giờ 20 phút cùng ngày, H điều khiển xe mô tô Yamaha Nouvo, màu trắng tím, biển kiểm soát 74H1-055.**, đến nhà T. Tại đó, T rủ H đi mua chè ăn, H đồng ý và điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74H1- 055.**, chở T đến chợ Lao Bảo. Đến nơi, T vào 01 quán tại chợ, mua 05 ly chè, rồi hướng dẫn H điều khiển xe mô tô chở T đến nhà Nguyễn Đức P, dừng xe ở đường Đặng Tất, phía sau nhà Nguyễn Đức P, trước nhà 54 đường Đặng Tất, thuộc khóm Cao Việt, xã Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị. Tại đó, T gặp K đang đứng ở cửa sau nhà Nguyễn Đức P đợi sẵn, K đưa cho T một vỏ gói thuốc lá Sài Gòn, bên trong có 01 gói ma túy tổng hợp, T nhận ma túy rồi đưa cho K (Tài Sỏ) 02 ly chè. Sau đó, T lên xe yêu cầu H chở về nhà T. Đến nơi, T một mình vào phòng ngủ của T, mở vỏ bao thuốc lá kiểm tra, thấy bên trong có 01 gói ni lông màu xanh dạng túi zip chứa ma túy tổng hợp. Sau khi kiểm tra, K để ma túy lên một chiếc bàn trong phòng, rồi ra bên ngoài phòng cùng H và Đinh Thị Như Q (vợ T) ăn hết 03 ly chè. Sau đó, H ra về, T vào phòng ngủ của T, lấy ma túy trong gói ma túy vừa mua, sử dụng nhiều lần hết khoảng hơn 20 viên; phần ma túy còn lại có tổng khối lượng 13,21g Methamphetamine trong gói ma túy vừa mua, T cho vào bên trong 01 vỏ bao thuốc lá Sài Gòn khác, tiếp tục để trên bàn trong phòng ngủ. Để có tiền trả cho K thanh toán tiền mua ma túy như đã thỏa thuận, khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, T điện thoại cho Trương Đại N, nhờ N đến nhà T lấy điện thoại mang đi cầm cố, N đồng ý. Khoảng 15 phút sau, N điều khiển xe mô tô đến nhà T, T đưa cho N 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A3S màu đỏ, đề nghị N đưa máy điện thoại đi cầm cố, lấy số tiền 700.000 đồng, nếu không được thì cầm cố lấy số tiền 500.000 đồng; đưa cho N số tiền 545.000 đồng; đề nghị N sau khi cấm cố điện thoại, chuyển vào tài khoản của T số tiền 1.000.000 đồng. Theo yêu cầu và hướng dẫn của T, N đến cửa hàng cầm đồ Trịnh Yến, địa chỉ: 188 Quốc lộ 9, xã Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, gặp chị Lê Thị Mỹ Y là chủ cửa hàng, cầm cố máy điện thoại trên, lấy số tiền 500.000 đồng, rồi đến quán tạp hóa tại khóm Trung Chín, xã Lao Bảo, gặp chị Phù Thị T, sinh năm 1967, nơi ở hiện tại: khóm Trung Chín, xã Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, đưa cho chị T 1.000.000đ, nhờ chuyển vào tài khoản của N, số 2009009009909, mở tại Ngân hàng MB. Sau đó, N quay về nhà T, yêu cầu T cung cấp số tài khoản để chuyển tiền. T mở mã QR số tài khoản 0358674085, mở tại ngân hàng ABBANK, chủ tài khoản là Nguyễn Ngọc T do K cung cấp cho T trước đó để T chuyển tiền mua ma túy cho K. N chuyển số tiền 1.000.000 đồng vào tài khoản này. Đến khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày, T đang ở nhà thì lực lượng chức năng đến kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang như đã như đã nêu trên.

Kết luận giám định số 1276/KL-KTHS ngày 24/11/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận:

Mẫu 03 viên màu hồng trong túi ni lon trong suốt đánh số 1 (được niêm phong trong phong bì giấy ký hiệu MTT) gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng mẫu là 0,29 gam.

Mẫu các viên nén màu hồng bên trong túi nilon trong suốt đánh số 2 (được niêm phong trong phong bì giấy ký hiệu MTT) gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng mẫu là 13,21 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT: 247 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Mẫu 01 viên nén màu xanh bên trong túi nilong trong suốt (được niêm phong trong phong bì giấy ký hiệu MTT) gửi đến giám định có khối lượng mẫu là 0,11 gam. Không tìm thấy chất ma túy trong mẫu viên nén màu xanh.

Vật chứng tạm giữ, gồm:

- 01 (một) viên nén hình trụ tròn màu xanh và các viên nén hình trụ tròn màu hồng

- 01 (một) túi ni lông màu xanh, dạng túi zip, kích thước 5,3 x 4,5cm; 01 (một) túi ni lông màu xanh, dạng túi zip, kích thước 09 x 6,5cm.

- 01 (một) bật lửa gas màu tím; 01 (một) hộp kim loại hình Oval màu hồng, kích thước (08x06x02)cm, bên trong hộp kim loại có các mảnh giấy kẽm, trên bề mặt mỗi mảnh giấy kẽm có bám muội than đen; 01 (một) mảnh giấy kẽm màu trắng, trên bề mặt có bám dính muội than đen; 01 (một) chai nhựa màu xanh không có nắp, ở phần miệng chai có khuyên nhựa màu trắng, kích thước đường kính miệng chai 2,5cm, đường kính đáy 5cm, cao 21,5cm, trên thân chai tại vị trí 1/3 dưới có 01 lỗ thủng có gắn 01 ống tre dài 10cm.

- 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu xanh, mặt sau có dòng chữ VIVO có gắn thẻ sim có số thuê bao 0374.313.595, máy đã qua sử dụng, màn hình máy bị vỡ.

- 02 (hai) que thử nhanh chất ma túy nhãn hiệu Drugtest.

Bản cáo trạng số 46/CT-VKSHH ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Nguyễn Quang T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Quảng Trị đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T từ 05 năm đến 06 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định được đặt trong 01 túi niêm phong, ký hiệu MT1276; 01 túi ni lông màu xanh, dạng túi zip, kích thước 5,3 x 4,5cm; 01 túi ni lông màu xanh, dạng túi zip, kích thước 09 x 6,5cm. Sau giám định hoàn lại đựng trong túi niêm phong, ký hiệu BGT 1284; 01 bật lửa gas màu tím; 01 hộp kim loại hình Oval màu hồng, kích thước (08x06x02)cm, bên trong hộp kim loại có các mảnh giấy kẽm, trên bề mặt mỗi mảnh giấy kẽm có bám muội than đen; 01 mảnh giấy kẽm màu trắng, trên bề mặt có bám dính muội than đen; 01 chai nhựa màu xanh không có nắp, ở phần miệng chai có khuyên nhựa màu trắng, kích thước đường kính miệng chai 2,5cm, đường kính đáy 5cm, cao 21,5cm, trên thân chai tại vị trí 1/3 dưới có 01 lỗ thủng có gắn 01 ống tre dài 10cm. Sau giám định được niêm phong trong túi niêm phong, ký hiệu DCT 1284; 02 que thử nhanh chất ma túy nhãn hiệu Drugtest.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu xanh, mặt sau có dòng chữ VIVO có gắn thẻ sim có số thuê bao 0374.313.595, máy đã qua sử dụng, màn hình máy bị vỡ của bị cáo Nguyễn Quang T.

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Quang T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Quang T trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh Quảng Trị, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Quang T và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 18/11/2024, bị cáo Nguyễn Quang T đã bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nhằm mục đích để sử dụng. Tại bản Kết luận giám định số 1276/KL-KTHS ngày 24/11/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: Mẫu 03 viên màu hồng trong túi ni long trong suốt đánh số 1 (được niêm phong trong phong bì giấy ký hiệu MTT) gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng mẫu là 0,29 gam. Mẫu các viên nén màu hồng bên trong túi nilon trong suốt đánh số 2 (được niêm phong trong phong bì giấy ký hiệu MTT) gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng mẫu là 13,21 gam. Tổng cộng 13,5 gam. Hành vi của bị cáo Nguyễn Quang T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự.

Xét về tính chất, hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước mà còn là nguyên nhân dẫn đến gây mất tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Quảng Trị truy tố bị cáo Nguyễn Quang T về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “… Methamphetamine … có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Quang T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình do đó cần áp dụng tình tiết “Người phạm tội đã thành khẩn khai báo”. Trrong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Quang T đã thể hiện thái độ ăn năn, hối cải, tích cực giúp đỡ cơ quan có thẩm quyền phát hiện tội phạm và đã khởi tố một vụ án khác theo Quyết định khởi tố vụ án số 22/QĐ-KTVA ngày 26/11/2024 của Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo, do đó cần áp dụng tình tiết “Người phạm tội đã lập công chuộc tội”. Bị cáo là lao động chính trong gia đình (có xác nhận của chính quyền địa phương). Vì vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả pháp lý của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đặc biệt bị cáo đã góp phần quan trọng giúp cơ quan chức năng phát hiện bắt đối tượng và thu giữ khối lượng rất lớn ma túy trong vụ án khác. Vì vậy, khi lượng hình cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng có tác dụng đấu tranh phòng, chống tội phạm và thể hiện tích chất khoan hồng pháp luật của Đảng và Nhà nước ta.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Quang T trong thời hạn 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

Về xử lý vật chứng

- Số ma túy hoàn lại sau giám định trong 01 túi niêm phong, ký hiệu MT1276, có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị và chữ ký của những người tham gia niêm phong là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01(một) túi ni lông màu xanh, dạng túi zip, kích thước 5,3 x 4,5cm; 01(một) túi ni lông màu xanh, dạng túi zip, kích thước 09 x 6,5cm. Sau giám định hoàn lại trong túi niêm phong, ký hiệu BGT 1284, có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị và chữ ký của những người tham gia niêm phong; 01 (một) bật lửa gas màu tím; 01 (một) hộp kim loại hình Oval màu hồng, kích thước (08x06x02)cm, bên trong hộp kim loại có các mảnh giấy kẽm, trên bề mặt mỗi mảnh giấy kẽm có bám muội than đen; 01 (một) mảnh giấy kẽm màu trắng, trên bề mặt có bám dính muội than đen; 01 (một) chai nhựa màu xanh không có nắp, ở phần miệng chai có khuyên nhựa màu trắng, kích thước đường kính miệng chai 2,5cm, đường kính đáy 5cm, cao 21,5cm, trên thân chai tại vị trí 1/3 dưới có 01 lỗ thủng có gắn 01 ống tre dài 10cm. Sau giám định được hoàn lại trong túi niêm phong, ký hiệu DCT 1284, có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị và chữ ký của những người tham gia niêm phong; 02 (hai) que thử nhanh chất ma túy nhãn hiệu Drugtest là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu xanh, mặt sau có dòng chữ VIVO có gắn thẻ sim có số thuê bao 0374.313.595, máy đã qua sử dụng, màn hình máy bị vỡ của bị cáo Nguyễn Quang T, bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Về các vấn đề khác của vụ án

Đối với Nguyễn Xuân K (Tài Sỏ), Nguyễn Ngọc T (chủ tài khoản 0358674085, mở tại ngân hàng ABBANK). Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định số 3102a/QĐ-CSMT ngày 16/06/2024 tách hành vi của Nguyễn Xuân K và Nguyễn Ngọc T để điều tra, xác minh trong một nguồn tin về tội phạm khác.

Đối với anh Lê Bá H là người điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74H1-055.** chở Nguyễn Quang T đến phía sau nhà Nguyễn Đức P để Trí giao dịch mua bán ma túy với Nguyễn Xuân K. Kết quả điều tra xác định H không biết việc T và K mua bán ma túy, nên không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Lê Bá H.

Đối với anh Trương Đại N, là người mang máy điện thoại của T đi cầm cố và chuyển số tiền 1.000.000 đồng đến tài khoản của Nguyễn Ngọc T theo hướng dẫn của bị cáo Trí; chị Lê Thị Mỹ Y (chủ cửa hàng cầm đồ Trịnh Yến) là người nhận cầm cố máy điện thoại cho N. Kết quả điều tra xác định anh Trương Đại N và chị Lê Thị Mỹ Y đều không biết việc giao dịch nên trên là để bị cáo T thanh toán tiền mua ma túy cho Nguyễn Xuân K, nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người này.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s,u khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 19/11/2024).

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định được đặt trong 01 (một) túi niêm phong, ký hiệu MT1276, có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị và chữ ký của những người tham gia niêm phong; 01 (một) túi ni lông màu xanh, dạng túi zip, kích thước 5,3 x 4,5cm; 01 (một) túi ni lông màu xanh, dạng túi zip, kích thước 09 x 6,5cm. Sau giám định hoàn lại trong túi niêm phong, ký hiệu BGT 1284, có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị và chữ ký của những người tham gia niêm phong; 01(một) bật lửa gas màu tím; 01(một) hộp kim loại hình Oval màu hồng, kích thước (08x06x02)cm, bên trong hộp kim loại có các mảnh giấy kẽm, trên bề mặt mỗi mảnh giấy kẽm có bám muội than đen; 01(một) mảnh giấy kẽm màu trắng, trên bề mặt có bám dính muội than đen; 01(một) chai nhựa màu xanh không có nắp, ở phần miệng chai có khuyên nhựa màu trắng, kích thước đường kính miệng chai 2,5cm, đường kính đáy 5cm, cao 21,5cm, trên thân chai tại vị trí 1/3 dưới có 01 lỗ thủng có gắn 01 ống tre dài 10cm. Sau giám định được hoàn lại trong túi niêm phong, ký hiệu DCT 1284, có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị và chữ ký của những người tham gia niêm phong; 02 (hai) que thử nhanh chất ma túy nhãn hiệu Drugtest.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu xanh, mặt sau có dòng chữ VIVO có gắn thẻ sim có số thuê bao 0374.313.595, máy đã qua sử dụng, màn hình máy bị vỡ của bị cáo Nguyễn Quang T.

Vật chứng nêu trên hiện đang được Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 – Quảng Trị quản lý và có đặc điểm được mô tả theo Biên bản giao, nhận, đồ tài liệu, vật chứng ngày 30/7/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Trị và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 – Quảng Trị.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Quang T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (30/7/2025). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ./.

Cỡ chữ