- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Thị D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Lý Thị D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VỰC 5 - ĐIỆN BIÊN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH ĐIỆN BIÊN ______________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2025/HS-ST Ngày 29-7-2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vàng Thị Dua.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Khoàng Văn Sơn và bà Lò Thị Lên.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Khôi - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh Điện Biên; Mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 09/7/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HS ngày 17/7/2025 đối với bị cáo:
Lý Thị D; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 09/12/1961, tại tỉnh Yên Bái; Nơi thường trú: Bản HK, xã VĐ, huyện NP, tỉnh Điện Biên (Nay là bản HK, xã Nà Bủng, tỉnh Điện Biên); Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: Không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số căn cước công dân: 011161004162 cấp ngày: 30/6/2022, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an; Con ông: Lý Vảng Chu, đã chết và con bà: Hảng Thị Sú, đã chết; Bị cáo có chồng: Hảng Gà Nếnh, đã chết; Bị cáo có 06 người con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án kết án lần nào.
Bị bắt tạm giữ từ ngày 20/3/2025, tạm giam từ ngày 29/3/2025 cho đến nay tại phân trại tạm giam khu vực huyện NP, có mặt.
Người bào chữa cho các bị cáo: Bà Nguyễn Thị Lan, là Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên, có đơn xin vắng mặt.
Người phiên dịch: Bà Vàng Thị Dính, sinh năm 1988
Địa chỉ: Bản Huổi Đáp, xã Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 04 giờ sáng ngày 20/3/2025, Lý Thị D đi bộ từ nhà ở bản HK, xã VĐ, huyện NP, tỉnh Điện Biên (Nay là bản HK, xã Nà Bủng, tỉnh Điện Biên) lên khu vực biên giới Việt Nam –Lào thuộc bản Huổi Dạo, xã VĐ, huyện NP, tỉnh Điện Biên (Nay là bản Huổi Dạo, xã Nà Bủng, tỉnh Điện Biên), mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây D gặp một người phụ nữ dân tộc Mông khoảng 60 tuổi, không rõ tên tuổi, địa chỉ đang đứng ở vệ đường mòn. Qua trao đổi D đã mua của người phụ nữ 01 gói Heroine được gói bằng ni lông màu xanh với giá 300.000 đồng. Mua được ma túy D cất vào túi vải màu đen đang đeo trước bụng rồi đi bộ quay về nhà. Về đến nhà D lấy gói Heroine vừa mua được ra dùng móng tay tách thành 09 cục nhỏ và dùng các mảnh giấy ni lông gói từng cục lại rồi dùng lửa hàn kín miệng các gói sau đó cho vào một mảnh ni lông màu hồng buộc thắt nút lại để sử dụng dần, rồi D cho vào túi vải màu đen đeo trước bụng. Hồi 15 giờ 30 phút ngày 20/3/2025 khi D đang ở trong nhà thì bị tổ công tác Công an xã VĐ, huyện NP, tỉnh Điện Biên (Nay là Công an xã Nà Bủng, tỉnh Điện Biên) phát hiện, bắt quả tang, qua giải thích, D đã tự giác lấy trong túi vải màu đen đang đeo trước bụng ra giao nộp cho tổ công tác 09 gói Heroine, có tổng khối lượng 2,08 gam.
Bản kết luận giám định số: 226/KL-KTHS, ngày 27/3/2025 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận:
Khối lượng vật chứng thu giữ của Lý Thị D là 2,08 gam là chất ma túy: Loại Heroine.
Hoàn lại đối tượng giám định có biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định kèm theo.
Bản cáo trạng số: 02/CT-VKS-KV5 ngày 08/7/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị can Lý Thị D về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Lý Thị D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Điện Biên đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo Lý Thị D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo Lý Thị D từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 1,74 gam Heroine là vật chứng hoàn lại của vụ án sau khi gửi mẫu giám định; 01 túi vải màu đen có quai đeo là vật chứng vụ án.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Lý Thị D nhất trí với tội danh và điều luật áp dụng. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo; Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo Lý Thị D là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, không được đi học, thực hiện hành vi phạm tội do nhận thức pháp luật còn hạn chế. Bị cáo Lý Thị D không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xem xét áp dụng mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát. Đồng thời xem xét hoàn cảnh gia đình, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo Lý Thị D nhất trí với bản cáo trạng, bản luận tội của Viện Kiểm sát nhân dân huyện NP, không bổ sung gì với bản luận cứ bào chữa của người bào chữa và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Lý Thị D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội tang trữ trái phép chất ma túy. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định ngày 21/3/2025; Kết luận giám định số: 226/KL-KTHS, ngày 27/3/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên. Bị cáo Lý Thị D đã có hành vi tàng trữ trái phép ma túy với khối lượng 2,08 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Vì vậy Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Lý Thị D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[2] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo Lý Thị D thuộc trường hợp nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý đặc biệt các chất ma tuý của Nhà nước và gây ảnh hưởng xấu an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo Lý Thị D là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, để có ma túy sử dụng bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo Lý Thị D đã tiếp tay cho những kẻ mua bán trái phép chất ma túy, đi ngược lại với đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước ta.
[3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân: Bị cáo Lý Thị D chưa có tiền án, tiền sự. Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm minh đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để bị cáo sửa chữa lỗi lầm của mình, nhằm sau này trở thành công dân có ích cho xã hội. Ngoài hình phạt chính, qua xác minh, xét thấy bị cáo Lý Thị D là người nghiện ma túy, không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[4] Về vật chứng vụ án: Gồm 1,74 gam Heroine (hoàn lại sau khi giám định) là vật nhà nước cấm lưu hành, 01 túi vải màu đen có quai đeo là vật không có giá trị sử dụng cần tuyên tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với người phụ nữ dân tộc Mông đã bán ma túy cho Lý Thị D theo lời khai của bị cáo D do không rõ tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để điều tra xác minh làm rõ.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Điện Biên và người bào chữa cho bị cáo Lý Thị D về hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử cần xem xét để áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.
[6] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số326/2016/UBTVQH14: HĐXX xét thấy gia đình bị cáo Lý Thị D là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ nên được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo Lý Thị D và người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố bị cáo Lý Thị D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
[2] Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lý Thị D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, kể từ ngày bắt: 20/3/2025.
[3] Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tuyên tịch thu tiêu hủy:
- 1,74 gam Heroine (hoàn lại sau khi giám định) được niêm phong trong một phong bì công văn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên; mặt sau của phong bì dán kín có chữ ký và họ tên của Hoàng Xuân Liểu, Triệu Tiến Minh và 03 hình dấu của Phòng KTHS-CAT Điện Biên.
- 01 phong bì của Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh Điện Biên được dán kín các mép; mặt trước ghi dòng chữ viết tay: Vật chứng vụ Lý Thị D, sinh năm 1961; vật chứng là 10 mảnh nilon màu hồng và 01 phong bì niêm phong cũ của Công an xã VĐ; mặt sau của phong bì tại mép dán có chữ ký, họ và tên của Vừ A Tủa, Giàng A Khở, Hoàng Xuân Liểu, Vì Văn Quyết, Vàng A Về, 01 dấu vân tay điểm chỉ ngón trỏ phải của Lý Thị D và 01 dấu tròn của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên.
- 01 túi vải màu đen hình chữ nhật, kích thước 18,5cm x 12,5cm có quai đeo bằng chun màu đen, có 2 ngăn, mỗi ngăn đều có khóa kéo màu đen.
[4] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS năm 2015 và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án ngày 30/12/2016: Bị cáo Lý Thị D được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.
[5] Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án: 29/7/2025. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| - Bị cáo ; Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà - Người bào chữa; - PTTG khu vực huyện NP; - CQTHAHS tỉnh Điện Biên; - Phòng HSNV-LLTP Công an tỉnh Điện Biên; - VKSND khu vực 5, tỉnh Điện Biên; - THADS tỉnh Điện Biên; - Phòng Giám đốc, Thanh tra, Kiểm tra và THA Tòa án tỉnh Điện Biên; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên; - Công an xã Nà Bủng, tỉnh Điện Biên; Vàng Thị Dua - Lưu hồ sơ vụ án; HSTHA. | Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM - Bị cáo ; Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà - Người bào chữa; - CQĐT Công an tỉnh Điện Biên; - Phân trại khu vực NP trại tạm giam Công an tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện NP; - Đội THADS NP; - Phòng Thanh tra, Kiểm tra và THA Tòa án tỉnh; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên; - Sở tư pháp tỉnh Điện Biên; - Lưu hồ sơ vụ án; HSTHA. Vàng Thị Dua |