vanban.org

Bản án 05/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Hứa Viết L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Hứa Viết L 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 21/4/2025). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hứa Viết L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HS-ST
Ngày 14 - 8 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Khánh Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Hùng Vương; bà Triệu Thị Liên.

- Thư ký phiên toà: Bà Nông Kim Huệ - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang tham gia phiên toà: Ông Vương Chí Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang và điểm cầu thành phần: Trại Tạm giam số 2, Công an tỉnh Tuyên Quang, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 05/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:

Hứa Viết L, tên gọi khác: Hứa Việt L, Đ; sinh ngày: 09 tháng 01 năm 1995 tại: Huyện C (cũ), tỉnh Lạng Sơn; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; nơi cư trú: Tổ x, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hà Giang (nay thuộc xã V, tỉnh Tuyên Quang); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hứa Văn V (đã chết) và bà Hứa Thị H, sinh năm 1966; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 22/02/2013, có hành vi cố ý gây thương tích, bị Tòa án nhân dân huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang xử phạt 36 tháng tù, tại Bản án số: 11/2013/HSST ngày 18/6/2013 (đã xóa án tích).

- Ngày 04/9/2012, có hành vi trộm cắp tài sản, bị Tòa án nhân dân huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ, tại Bản án số: 18/2013/HSST ngày 10/9/2013 (đã xóa án tích).

- Ngày 08/01/2022, có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị Tòa án nhân dân huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang xử phạt 17 tháng tù, tại Bản án số: 16/2022/HS-ST ngày 01/6/2022 (đã xóa án tích).

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 21/4/2025, chuyển tạm giam từ ngày 30/4/2025, có mặt tại điểm cầu thành phần.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 14/4/2025, Hứa Viết L đi xe khách tuyến Hà Giang - Thái Nguyên từ thị trấn N, huyện V, tỉnh Hà Giang (nay thuộc xã V, tỉnh Tuyên Quang) đến tỉnh Thái Nguyên tìm mua ma túy để sử dụng. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, L đến khu vực Bến xe khách thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (nay thuộc phường P, tỉnh Thái Nguyên). L đi xung quanh khu vực bến xe để tìm mua ma túy. Tại đây, L gặp và hỏi một người phụ nữ lạ mặt khoảng 40 tuổi, đeo khẩu trang (không biết tên tuổi, địa chỉ) có biết ở đâu bán ma túy không. Người phụ nữ này hỏi “Mua bao nhiêu?”, L trả lời: “2.000.000 đồng (Hai triệu đồng)”, người phụ nữ bảo L đợi để đi lấy ma túy. Khoảng 10 phút sau, người phụ nữ này quay lại đưa cho L 01 túi ni lông (dạng túi zip) bên trong đựng ma túy Heroin dạng cục và dạng bột; L đưa lại cho người phụ nữ này số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, L đi xe khách từ thành phố T (cũ) về nhà tại tổ x, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hà Giang (cũ). Hàng ngày, L thường lấy một phần nhỏ số ma túy đã mua được để sử dụng. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 21/4/2025, L lấy một phần ma túy cho vào gói giấy, cầm bằng tay phải mang đến khu vực gầm cầu Km27, Quốc lộ 2 (đường Hà Giang - Tuyên Quang) thuộc tổ x, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hà Giang (cũ) để sử dụng. Khi đi đến đoạn đường bê tông thuộc tổ x, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hà Giang (cũ) thì bị lực lượng Công an thị trấn N (nay là Công an xã V) phát hiện, bắt quả tang L về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình bắt người phạm tội quả tang và khám xét chỗ ở, cơ quan công an đã thu giữ: 01 (một) gói giấy màu trắng bên ngoài in chữ Việt Nam, bên trong gói giấy có chứa chất dạng bột, màu trắng (nghi là ma túy) và 01 hộp kim loại sáng màu kích thước 8,5cm x 5,5cm, bên trong 01 túi ni lông màu trắng dạng túi rít có viền đỏ, bên trong túi ni lông có chất dạng cục màu trắng (nghi là ma túy), 01 gói giấy màu trắng có chữ Việt Nam bên trong có chất bột màu trắng (nghi là ma túy).

Tại Bản kết luận giám định số: 170/KL-KTHS ngày 28/4/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Giang (cũ), kết luận:

- 03 (ba) mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2, A3 đều là ma túy, loại Heroin (Heroine), có tổng khối lượng 2,0469g (Hai phẩy không nghìn bốn trăm sáu mươi chín gam).

Heroine (Heroine) có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Hứa Viết L không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nói trên.

Về vật chứng vụ án gồm có:

- 01 (một) Phong bì đã niêm phong sau cân tịnh: Mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ”; mặt sau có chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hà Giang.

- 01 (một) Phong bì đã niêm phong sau giám định: Mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ sau giám định”; mặt sau phong bì có chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang.

- 01 (một) Phong bì đã niêm phong sau giám định: Mặt trước phong bì ghi “Mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu A1, A2, A3 của Hứa Viết L”, mặt sau có chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang.

Bản Cáo trạng số: 01A/CT-VKSKV4 ngày 16/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang truy tố bị cáo Hứa Viết L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Hứa Viết L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang giữ nguyên quan điểm như tại Cáo trạng đã truy tố, sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hứa Viết L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, các điều 50, 38 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Hứa Viết L từ 36 đến 42 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 21/4/2025).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hứa Viết L.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy đối với các vật chứng gồm:

- 01 (một) Phong bì đã niêm phong sau cân tịnh: Mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ”; mặt sau có chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hà Giang.

- 01 (một) Phong bì đã niêm phong sau giám định: Mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ sau giám định”; mặt sau phong bì có chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang.

- 01 (một) Phong bì đã niêm phong sau giám định: Mặt trước phong bì ghi “Mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu A1, A2, A3 của Hứa Viết L”, mặt sau có chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang.

4. Về án phí: Bị cáo Hứa Viết L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận, nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Giang (nay là Công an tỉnh Tuyên Quang), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Giang (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang), Kiểm sát viên đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; không có khiếu nại, tố cáo. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Hứa Viết L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản khám xét chỗ ở, Kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ căn cứ để khẳng định: Ngày 21/4/2025, tại tổ x, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hà Giang (nay thuộc xã V, tỉnh Tuyên Quang), Hứa Viết L đã có hành vi tàng trữ trái phép tổng khối lượng 2,0469g (Hai phẩy không nghìn bốn trăm sáu mươi chín gam) chất ma túy Heroin. Heroin nằm trong danh mục I (Các chất ma túy tuyệt đối cấm sử dụng trong y học và đời sống xã hội; việc sử dụng các chất này trong nghiên cứu, kiểm nghiệm, giám định, điều tra tội phạm theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền), mục IA, số thứ tự 9, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa xác định, bị cáo Hứa Viết L tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng, không nhằm mục đích nào khác.

Bị cáo Hứa Viết L là người có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định, bị cáo buộc phải biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi bị cấm theo quy định của pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý tàng trữ trái phép 2,0469g (Hai phẩy không nghìn bốn trăm sáu mươi chín gam) chất ma túy Heroin, mục đích để sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo Hứa Viết L thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, không những gây thiệt hại đến kinh tế của bản thân bị cáo và gia đình mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe của chính bị cáo, đồng thời là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác về ma túy cũng như làm gia tăng tệ nạn xã hội ở địa phương nơi bị cáo sinh sống. Hành vi tàng trữ trái phép 2,0469g (Hai phẩy không nghìn bốn trăm sáu mươi chín gam) chất ma túy Heroin của bị cáo Hứa Viết L được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do hành vi của bị cáo Hứa Viết L xảy ra trước ngày 01/7/2025 nên thuộc trường hợp áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Như vậy, hành vi của bị cáo Hứa Viết L đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang truy tố bị cáo Hứa Viết L là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Hứa Viết L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Hội đồng xét xử thấy khi xem xét quyết định hình phạt, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về nhân thân: Bị cáo Hứa Viết L không có tiền án, tiền sự; tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo đã có 03 lần bị xử lý hình sự, trong đó có 01 lần bị xử lý hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, thể hiện bị cáo là người không có ý thức chấp hành pháp luật, không có khả năng tự cải tạo.

Về hình phạt chính: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần có một mức án đủ nghiêm khắc, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo, răn đe đối với bị cáo cũng như bảo đảm đấu tranh, phòng ngừa đối với loại tội phạm này tại địa phương.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy do bị cáo Hứa Viết L là lao động tự do, không có công việc, thu nhập ổn định, không có tài sản; hành vi phạm tội của bị cáo Hứa Viết L không liên quan đến chức vụ, nghề nghiệp của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với các vật chứng gồm 01 (một) Phong bì đã niêm phong sau cân tịnh: Mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ”; mặt sau có chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hà Giang; 01 (một) Phong bì đã niêm phong sau giám định: Mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ sau giám định”; mặt sau phong bì có chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang; 01 (một) Phong bì đã niêm phong sau giám định: Mặt trước phong bì ghi “Mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu A1, A2, A3 của Hứa Viết L”, mặt sau có chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang. Số vật chứng này là vật cấm tàng trữ, lưu hành và vật không có giá trị, không sử dụng được, cần tịch thu, tiêu hủy.

Ngoài hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo Hứa Viết L có kết quả xét nghiệm dương tính với chất ma túy loại MOP chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo Hứa Viết L về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho bị cáo Hứa Viết L vào ngày 14/4/2025 tại khu vực Bến xe khách thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (nay thuộc phường P, tỉnh Thái Nguyên): Bị cáo Hứa Viết L không biết tên, tuổi, địa chỉ người đó ở đâu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang tách vụ việc để xác minh làm rõ là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Hứa Viết L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Hứa Viết L có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, xét thấy: Ý kiến, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang tại phiên tòa là có căn cứ, cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, các điều 50, 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Hứa Viết L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Hứa Viết L 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 21/4/2025).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hứa Viết L.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy đối với các vật chứng gồm:

- 01 (một) Phong bì đã niêm phong sau cân tịnh: Mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ”; mặt sau có chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hà Giang.

- 01 (một) Phong bì đã niêm phong sau giám định: Mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ sau giám định”; mặt sau phong bì có chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang.

- 01 (một) Phong bì đã niêm phong sau giám định: Mặt trước phong bì ghi “Mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu A1, A2, A3 của Hứa Viết L”, mặt sau có chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang.

(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/7/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Tuyên Quang)

3. Về án phí:

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Hứa Viết L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ các điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

5. Kiến nghị xử lý vi phạm pháp luật:

Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền đối với bị cáo Hứa Viết L về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ