vanban.org

Bản án 05/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 18/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Lê Hải H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù.

Không áp d ng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Vật chứng: Căn cứ khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Lê Hải H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lê Hải H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HS-ST
Ngày 18-8-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Văn Quang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Sơ, bà Hà Thị Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Thiết - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Mạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2025, tại tr s Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La xét xử công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số 03/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2025, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HS ngày 06/8/2025, đối với bị cáo:

Lê Hải H, tên gọi khác: Không, sinh năm 1983 tại huyện K, tỉnh H Yên; nơi cư trú: Tiểu khu xx, xã M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Lê Tường V và bà Lê Thị Phương T (đã chết);

- Tiền sự: Không

- Tiền án: có 01 tiền án, ngày 14/9/2022 bị Toá án quân sự khu vực Quân Khu 2, xử phạt 30 tháng tù giam về Tội mua bán trái phép chất ma túy quy định tại 251 Bộ luật Hình sự. Chấp hành xong ngày 25/8/2024 (chưa được xoá án tích);

- Nhân thân: Năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xử phạt 3 năm tù giam về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/4/2025 đến nay, có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa v liên quan: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1988, trú tại Tiểu khu xx, xã M, tỉnh Sơn La, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 30 phút ngày 16/04/2025, Tổ công tác Phòng PC04 Công an tỉnh Sơn La phối hợp Công an xã Hát Lót, tỉnh Sơn La làm nhiệm v tại bản 428, xã Mai Sơn, tỉnh Sơn La phát hiện đối tượng Lê Hải H điều khiển xe môtô hiệu HONDA WAVE BKS 26B1-614.74 di chuyển theo hướng bản 428, xã Mai Sơn đi tiểu khu 20, xã Mai Sơn có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tiến hành kiểm tra, tổ công tác phát hiện trong túi áo trước ngực bên trái H đang mặc 01 gói giấy màu trắng chứa chất bột nén màu trắng nghi là ma túy Heroine. H khai nhận là Heroine của H, tàng trữ để sử d ng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Hải H và thu giữ, niêm phong vật chứng nêu trên. Ngoài ra còn tạm giữ của H: 01 điện thoại di động hiệu NOKIA loại N1280 tại túi quần phía trước bên phải H đang mặc; 01 xe mô tô hiệu HONDA WAVE màu đỏ, biển kiểm soát 26B1- 614.74.

Ngày 16/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La phối hợp với Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La cân tịnh, xác định khối lượng vật chứng thu giữ của Lê Hải H, kết quả: Khối lượng chất bột nén màu trắng là 0,2 gam, lấy toàn bộ làm mẫu ký hiệu M trưng cầu giám định.

Tại bản Kết luận giám định số 484/KL-KTHS ngày 21 tháng 4 năm 2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:

“Mẫu ký hiệu M gửi giám định là ma túy; Loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh m c chất ma túy và tiền chất; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,20 gam.

Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,20 gam; Loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh m c chất ma túy và tiền chất.”

Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo khai nhận: Khoảng 11 giờ 20 phút, ngày 16/04/2025 Lê Hải H điều khiển xe môtô hiệu HONDA WAVE màu đỏ, biển kiểm soát 26B1- 614.74 từ nương của gia đình tại bản 428, xã Mai Sơn, tỉnh Sơn La về nhà. Khi đi đến khu thuộc bản 428, xã Mai Sơn, tỉnh Sơn La, H gặp một người đàn ông (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) đang đi bộ trên đường giống người nghiện ma tuý, H dừng xe và hỏi mua được của người đàn ông 01 gói Heroine với giá 100.000VNĐ. Sau khi mua đợc Heroine H đi vào ven đường lấy một ít ra sử d ng, số còn lại H gói lại như cũ rồi giấu gói Heroine vào túi áo ngực phía trước bên trái H đang mặc rồi điều khiển xe đi về nhà. Khi đi đến khu vực đường dân sinh thuộc bản 428, xã Mai Sơn, tỉnh Sơn La, H bị tổ công tác Công an tỉnh Sơn La phối hợp với Công an xã Hát Lót, tỉnh Sơn La, phát hiện bắt quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 04/CT-VKSKV4 ngày 01 tháng 8 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La truy tố Lê Hải H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp d ng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Lê Hải H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lê Hải H từ 22 tháng đến 26 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2025. Không áp d ng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng v án: Đề nghị áp d ng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự:

Đề nghị Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong trong đựng vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, mảnh giấy trắng có in chữ màu đen gói ma tuý ban đầu;

Đề nghị tuyên trả cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA loại N 1280 màu xanh kèm theo 01 sim điện thoại di động.

Tuyên trả cho bà Nguyễn Thị L 01 xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE biển kiểm soát 26B1 - 614.74.

Về án phí: Bị cáo Lê Hải H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Ý kiến của bị cáo Lê Hải H trình bày: Bị cáo nhất trí như bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến gì thêm.

Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hư ng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[ ] Về tố t ng: Hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật Tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố t ng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi và trách nhiệm hình sự của bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, bị cáo không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của v án. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Sơn La. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng đã thu giữ; biên bản m niêm phong vật chứng, xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng; kết luận giám định và lời khai của người chứng kiến sự việc.

Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 16/4/2025 tại khu vực bản 428, xã Mai Sơn, tỉnh Sơn La, Lê Hải H bị tổ công tác Phòng PC04 công an tỉnh Sơn La phối hợp với Công an xã Hát Lót, tỉnh Sơn La bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép 0,20 gam Heroine, m c đích để sử d ng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 4 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 của Quốc hội ban hành ngày 25/6/2025 quy định về việc áp d ng pháp luật đối với hành vi tội phạm xảy ra trước 00 giờ ngày 01/7/2025. Do hành vi phạm tội của Lê Hải H xảy ra vào ngày 16/4/2025, nên bị cáo Lê Hải H chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 với mức hình phạt nhẹ hơn.

Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hư ng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội.

Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhận thức được tác hại của ma tuý đối với bản thân, gia đình và xã hội nH vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác d ng răn đe, giáo d c và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cũng cần xem xét sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp d ng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Bản thân bị cáo đã có 01 tiền án, ngày 14/9/2021 bị Toá án quân sự khu vực Quân Khu 2, xử phạt 30 tháng tù giam về Tội mua bán trái phép chất ma túy quy định tại 251 Bộ luật Hình sự. Chấp hành xong ngày 25/8/2024 (chưa được xoá án tích). Cần áp d ng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức v , cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng bị cáo Lê Hải H là lao động tự do, thu nhập không ổn định, bản thân Lê Hải H không có tài sản riêng có giá trị nên không áp d ng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đối với 01 phong bì thư do Phòng kỹ thuật hình sự CÔng an tỉnh Sơn La phát hành, Phong bì thư đã được niêm phong dán kín bên trong chứa “01 mảnh giấy trắng có in chữ màu đen trong v Lê Hải H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý xảy ra ngày 16/4/2025 tại bản 428, xã Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La”. Xét thấy đây là vật không có giá trị sử d ng, cần tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự.

Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Lê Hải H khai nhận mua được của một người đàn ông, H không biết rõ địa chỉ, nhân thân, lai lịch của người đó. Việc trao đổi mua bán ma tuý diễn ra chỉ có H và người bán ma túy biết. Do đó Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La không có căn cứ điều tra làm rõ.

Đối với 01 xe môtô hiệu HONDA WAVE biển kiểm soát 26B1 - 614.74. Quá trình điều tra xác định là tài sản của Nguyễn Thị L, sinh năm 1988, trú tại Tiểu khu xx, xã M, tỉnh Sơn La (Chị dâu của H) cho H mượn. Việc H sử d ng xe vào việc phạm tội Nguyễn Thị L không biết, cần trả lại cho bà Nguyễn Thị L.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu NOKIA loại N1280 thu giữ khi bắt bị cáo. Hội đồng xét xử xác định chiếc điện thoại di động là tài sản của bị cáo, bị cáo không sử d ng chiếc điện thoại để liên lạc mua ma tuý, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo Lê Hải H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo đang bị tạm giam cần tiếp t c tạm giam theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật tố t ng hình sự năm 2015. Thời gian tạm giam được tính vào thời gian th hình.

Vì các l trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Tuyên bố bị cáo Lê Hải H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Xử phạt bị cáo Lê Hải H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2025 ngày bắt tạm giữ, tạm giam đối với bị cáo.

Không áp d ng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Vật chứng: Căn cứ khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư do Phòng kỹ thuật hình sự CÔng an tỉnh Sơn La phát hành, Phong bì thư đã được niêm phong dán kín bên trong chứa “01 mảnh giấy trắng có in chữ màu đen trong v Lê Hải H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý xảy ra ngày 16/4/2025 tại bản 428, xã Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La”.

Tuyên trả cho bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1988, trú tại Tiểu khu xx, xã M, tỉnh Sơn La 01 xe môtô hiệu HONDA WAVE biển kiểm soát 26B1 - 614.74.

Tuyên trả cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu NOKIA loại N1280.

(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/8/2025 giữa cơ quan Công an và Phòng thi hành án dân sự khu vực 4 – tỉnh Sơn La).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lê Hải H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa v liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ