vanban.org

Bản án 05/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 05/11/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Cà Văn B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Cà Văn B 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 10/7/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cà Văn B - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Cà Văn B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________
Bản án số: 05/2025/HS-ST
Ngày 05-11-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trung Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thành Vân và bà Cầm Thị Tươi.

- Thư ký phiên toà: Bà Cầm Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La tham gia phiên toà: Bà Lò Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:

Cà Văn B; tên gọi khác: Không; sinh ngày 02/5/1973, tại xã S, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tổ dân phố 11, xã S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá: 04/10; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ, Đảng, đoàn thể: Không; con ông Cà Văn Ọ và bà Vì Thị K (đều đã chết); bị cáo có vợ là Lường Thị T và có hai con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/7/2025 đến nay. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lường Thị T, sinh năm 1974, địa chỉ: Tổ dân phố 11, xã Sông Mã, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 15 giờ 00 phút ngày 10/7/2025 tổ công tác Công an xã H làm nhiệm vụ tại khu vực bản P, xã H, tỉnh Sơn La phát hiện bắt quả tang Cà Văn B (Có lý lịch nêu trên) đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 01 gói nilon màu đen bên trong có chứa 04 viên nén màu hồng. Cà Văn B khai nhận 04 viên nén hồng là Methamphetamine cất giữ nhằm mục đích để sử dụng.

Tổ công tác đã lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng, dẫn giải Cà Văn B về Công an tỉnh Sơn La (khu vực S) để điều tra làm rõ, tạm giữ của Cà Văn B 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA loại xe Taurus màu nâu – bạc, biển kiểm soát 26C1-049.73.

Ngày 10/7/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong, xác định số lượng, khối lượng số ma túy thu giữ của Cà Văn B, kết quả: 04 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 0,38 gam, lấy 02 viên có tổng khối lượng 0,19 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu “B”. Cơ quan Công an tỉnh Sơn La ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.

Tại kết luận giám định số: 780 ngày 15/7/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu B là ma túy, loại chất Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,19 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 0,38 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Cà Văn B khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 10/7/2025, Cà Văn B điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 26C1-049.73 từ nhà đến bản N, xã H mục đích tìm mua ma túy về sử dụng, khi đi B mang theo số tiền 100.000đ, khi đến bản N, B gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết đang đi bộ trên đường, B đi đến gần hỏi mua hồng phiến, người đàn ông bảo không có nếu muốn mua thì đưa tiền sẽ đi mua hộ, B đưa cho người này số tiền 100.000đ, người này nhận tiền rồi đi vào phía trong bản, khoảng 20 phút sau quay lại đưa cho B 01 gói nilon màu đen, B nhận gói ma túy mở ra kiểm tra thấy bên trong có 05 viên Hồng phiến, B đi vào khu vườn nhãn gần đấy lấy 01 viên Hồng phiến ra sử dụng bằng hình thức hít qua đường hô hấp vào cơ thể, sử dụng xong B vứt bật lửa và mảnh giấy bạc ngay tại chỗ, còn lại 04 viên Hồng phiến B gói lại như lúc ban đầu rồi cầm ở lòng bàn tay trái và điều khiển xe đi về. Khi B về đến khu vực bản P, xã H, tỉnh Sơn La thì bị tổ công tác Công an xã H, tỉnh Sơn La phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Bản cáo trạng số: 03/CT-VKS-KV3 ngày 13 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La truy tố bị cáo Cà Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 số 86/2025/QH15).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố Cà Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Tuyên bố Cà Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Cà Văn B từ 03 năm 04 tháng đến 03 năm 08 tháng tù;

Không áp dụng hình phạt bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1, 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành đã được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng lưu kho vụ: Cà Văn B, SN 1973; Nơi cư trú: Tổ dân phố 11, xã S, tỉnh Sơn La. Hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Gồm: Mẫu ký hiệu L = 0,19 gam nghi là Hồng phiến, 01 mảnh linon màu đen”.

Trả lại cho chị Lường Thị T: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Taurus LS, màu nâu – bạc, biển kiểm soát 26C1-049.73, số khung RLCS16S40CY031569, số máy 16SB-045436, xe có 01 gương chiếu hậu bên trái (có 01 chìa khóa xe kèm theo xe) xe đã qua sử dụng.

3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Lường Thị Thúy nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tình tiết định tội: Tại phiên toà bị cáo Cà Văn B thừa nhận hồi 15 giờ 00 phút, ngày 10/7/2025 Cà Văn B đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 04 viên Methamphetamine có tổng khối lượng 0,38 gam, với mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Cà Văn B đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy cần xem xét cân nhắc xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo. Việc cách ly bị cáo một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có thể đảm bảo được điều kiện và thời gian để bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa giáo dục chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bố đẻ là ông Cà Văn Ọ là người có công với cách mạng được tặng Huy chương kháng chiến Hạng nhất là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa thấy rằng bị cáo không có tài sản nên không phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo theo quy định của khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng: Đối với 01 phong bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành đã được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng lưu kho vụ: Cà Văn B, SN 1973; Nơi cư trú: Tổ dân phố 11, xã S, tỉnh Sơn La. Hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Gồm: Mẫu ký hiệu L = 0,19 gam nghi là Hồng phiến, 01 mảnh linon màu đen”. Là vật nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Taurus LS, màu nâu – bạc, biển kiểm soát 26C1-049.73, số khung RLCS16S40CY031569, số máy 16SB-045436, xe có 01 gương chiếu hậu bên trái (có 01 chìa khóa xe kèm theo xe) xe đã qua sử dụng. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay xác định là tài sản chung của vợ, chồng Cà Văn B, Lường Thị T việc bị cáo Cà Văn B sử dụng xe dùng làm phương tiện thực hiện phạm tội bà Lường Thị T không biết và không liên quan. Do đó cần trả lại cho bà Lường Thị T.

Căn cứ điểm c khoản 1, 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự khoản 1, điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự

Các vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo như bị cáo khai. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người này do đó không có căn cứ để điều tra xử lý.

Đối với hành vì sử dụng trái phép chất ma túy của Cà Văn B ngày 10/7/2025. Quá trình điều tra, xác minh bị cáo không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Pháp luật.

Xét thời hạn tạm giam của bị cáo còn dưới 45 ngày nên cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Cà Văn B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Cà Văn B 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 10/7/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1, 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành đã được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng lưu kho vụ: Cà Văn B, SN 1973; Nơi cư trú: Tổ dân phố 11, xã S, tỉnh Sơn La. Hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Gồm: Mẫu ký hiệu L = 0,19 gam nghi là Hồng phiến, 01 mảnh linon màu đen”.

Trả lại cho bà Lường Thị T: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Taurus LS, màu nâu – bạc, biển kiểm soát 26C1-049.73, số khung RLCS16S40CY031569, số máy 16SB-045436, xe có 01 gương chiếu hậu bên trái (có 01 chìa khóa xe kèm theo xe) xe đã qua sử dụng.

Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/10/2025 giữa Công an tỉnh Sơn La và phòng thi hành án dân sư khu vực 3 – Sơn La.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Cà Văn B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 05/11/2025.

Cỡ chữ