vanban.org

Bản án 05/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Lý Trung H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội «Mua bán trái phép chất ma túy» và 02 (hai) năm tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy». Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù.

Buộc bị cáo Lý Trung H nộp phạt 5.000.000 (năm triệu) đồng. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh (bị hư màn hình). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lý Trung H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điề…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lý Trung H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội «Mua bán trái phép chất ma túy» và 02 (hai) năm tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy». Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HS-ST
Ngày: 16/7/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Nữa.

Ông Lê Tấn Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đức - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Nguyên Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Thành phố Hồ Chí Minh (Cơ sở 1) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 80/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:

Lý Trung H; Sinh ngày: 04/10/1979; Tại: Tỉnh Sóc Trăng (nay là Thành phố Cần Thơ); Hộ khẩu thường trú: Khóm VT, phường VP, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng (nay là khóm VT, phường VP, Thành phố Cần Thơ); Chỗ ở: 613/7 đường ADV, phường ALA, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là 613/7 đường ADV, Phường AL, Thành phố Hồ Chí Minh); Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lý Bắc T và bà: Nguyễn Thị H1; Có vợ: Là bà Hà Phối L và con: Có 01 người con, sinh năm 2008; Tiền án: Không; Bị bắt, tạm giữ từ ngày 03/12/2024.

Tiền sự: Ngày 04/3/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc 12 tháng về hành vi sử dụng chất ma túy (Quyết định số: 09/2024/QĐ-TA). Chấp hành xong ngày 19/10/2024 (Giấy chứng nhận số: 237/CN-CSĐTN ngày 08/10/2024 của Cơ sở điều trị nghiện).

Nhân thân:

- Ngày 07/5/2013, bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm về tội «Đánh bạc» (Bản án số: 110/2013/HSST). Đã thi hành xong án phí, nộp phạt ngày 08/12/2016 (Công văn trả lời xác minh số: 895/CC-THADS ngày 13/3/2025 của Cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Ngày 07-09/12/2016, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội «Mua bán trái phép chất ma túy» (Bản án số: 312/2016/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/8/2019 và đã thi hành xong án phí, nộp phạt ngày 25/7/2017 (Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số: 763/GCN của Trại giam Long Hòa và Công văn trả lời xác minh số: 1662/CCTHADS ngày 14/5/2025 của Cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh).

(bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà Hà Phối L; Sinh năm: 1978; Thường trú: 11 đường MP, Phường E, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là 11 đường MP, phường BT, Thành phố Hồ Chí Minh); Chỗ ở: 613/7 đường ADV, phường ALA, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là 613/7 đường ADV, phường AL, Thành phố Hồ Chí Minh).

(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 18 giờ 30 phút ngày 03/12/2024, tổ công tác thuộc Công an Phường 14, Quận 6 trên đường tuần tra phát hiện Lý Trung H đang điều khiển xe đạp chạy đến trước khu vực nhà số 211 đường THĐ, Phường N, Quận F có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra đã thu giữ trong túi quần nhỏ phía trước bên phải của H 01 gói nylon chứa tinh thể không màu (H khai là ma túy đá). Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của H 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh. Sau đó, tổ công tác đã giao H cùng các vật chứng nêu trên cho Cơ quan điều tra Công an Quận 6 giải quyết.

Tiến hành khám xét nơi ở của Lý Trung H tại phòng trọ, nhà số 613/7 đường ADV, phường ALA, quận BT, tổ công tác thu giữ của H 01 gói nylon chứa tinh thể; 01 bình gas; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 ống thủy tinh dính tinh thể, 01 chai nhựa, 01 ống hút nhựa.

Tại Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Lý Trung H khai: Chiều ngày 03/12/2024, H nhận được điện thoại của một người tên T1 (không rõ lai lịch) hỏi mua 01 gói ma túy đá giá 1.100.000 đồng, H đồng ý và hẹn giao ma túy tại ngã tư đường THĐ - đường PA thuộc Phường N, Quận F. Đến 17 giờ cùng ngày, H đến khu vực trước nhà số 110/42/18 đường BH, Phường M, Quận F gặp một người tên T2 (không rõ lai lịch) mua 01 gói ma túy đá giá 950.000 đồng. Sau khi nhận ma túy, H cất vào trong túi quần nhỏ phía trước bên phải, rồi điều khiển xe đạp chạy đến điểm hẹn bán gói ma túy cho T1, nhưng mới chạy đến trước nhà số 211 đường THĐ thì đã bị phát hiện bắt giữ như nêu trên. Riêng gói ma túy đá và bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá bị thu giữ khi khám xét nhà số 613/7 đường ADV là của H mua của T2 trước đó khoảng 01 tuần để sử dụng.

Theo kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 03 tháng 12 năm 2024 của Trạm y tế Phường 14, Quận 6, Lý Trung H dương tính với ma túy (loại Methamphetamine, MDMA).

Tại Kết luận giám định số: 14503/KL-KTHS ngày 12 tháng 12 năm 2024, Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận: 03 gói được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Lý Trung H, Lê D (người chứng kiến) và hình dấu Công an Phường 14, Quận 6, bên trong có:

- Gói 1: 01 gói nylon chứa tinh thể (ký hiệu m1) cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2697g (không phẩy hai sáu chín bảy gam), loại Methamphetamine.

- Gói 2: 01 gói nylon chứa tinh thể (ký hiệu m2) cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,4870g (hai phẩy bốn tám bảy không gam), loại Methamphetamine.

- Gói 3: 01 ống thủy tinh chứa tinh thể (ký hiệu m3) cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0718g (không phẩy không bảy một tám gam), loại Methamphetamine.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 ra quyết định khởi tố vụ án hình sự (Quyết định số: 231/QĐ-ĐCSMT); khởi tố bị can đối với Lý Trung H về các tội «Mua bán trái phép chất ma túy», «Tàng trữ trái phép chất ma túy» (Quyết định số: 311/QĐ-ĐCSMT).

Đối với người tên T1 mua ma túy của Lý Trung H và người tên T2 bán ma túy cho Lý Trung H, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 đang tiến hành điều tra xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau.

Tại Cáo trạng số: 62/CT-VKS-Q6 ngày 26 tháng 5 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lý Trung H về tội «Mua bán trái phép chất ma túy» và tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» theo quy định tại khoản 1 Điều 251, điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo Lý Trung H khai nhận chính bị cáo, đã thực hiện hành vi mua bán ma túy tổng hợp (loại Methamphetamine hay còn gọi là ma túy đá) như nội dung bản cáo trạng nêu. Đối với 01 gói ma túy đá bị thu giữ trong túi quần nhỏ phía trước bên phải là bị cáo mua của một người tên T2 (không rõ lai lịch) để bán lại cho một người tên T1 (không rõ lai lịch) thu lợi. Riêng gói ma túy đá và bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (gồm 01 ống thủy tinh dính tinh thể, 01 chai nhựa, 01 ống hút nhựa) bị thu giữ khi khám xét nhà số 613/7 đường ADV, phường ALA, quận BT là của bị cáo cất giữ để dành sử dụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lý Trung H như bản cáo trạng và sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Phạt bị cáo Lý Trung H từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội «Mua bán trái phép chất ma túy» và từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» theo khoản 1 Điều 251; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội theo điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Không phạt tiền đối với bị cáo, do bị cáo không có khả năng thi hành.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh (bị hư màn hình).

Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói bên ngoài ghi vụ số: 4600/24/Q6/1, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Lê Thị H1 và cán bộ điều tra Vương Phan Khánh A, bên trong chứa tinh thể (m1) có khối lượng 0,1911 gam; 01 gói bên ngoài ghi vụ số: 4600/24/Q6/2, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Lê Thị H1 và cán bộ điều tra Vương Phan Khánh A, bên trong chứa tinh thể (m2) có khối lượng 2,2881 gam; 01 gói bên ngoài ghi vụ số: 4600/24/Q6/3, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Lê Thị H1 và cán bộ điều tra Vương Phan Khánh A, bên trong chứa tinh thể (m3) có khối lượng 0,0161 gam (tất cả là mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định); 01 bình gas; 01 chai nhựa có gắn ống hút bằng nhựa; 01 sim điện thoại số seri: 8401230450079169 (bị cáo khai số thuê bao 0907955511).

Trả lại bà Hà Phối L 01 chiếc xe đạp màu trắng, hiệu MODELTIME (cũ, hỏng).

Đối với 01 thẻ nhớ (chứa file dữ liệu nôi dung tin nhắn được trích xuất từ chiếc điện thoại của Lý Trung H) đã được niêm phong (BL145), là chứng cứ lưu hồ sơ, nên không đề nghị xử lý.

Lời nói sau cùng, bị cáo Lý Trung H cho rằng trong thời gian bị tạm giam, bị cáo đã nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, là vi phạm pháp luật, nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt. Tuy nhiên, xét thấy sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng, không gây trở ngại gì đến việc giải quyết vụ án. Mặt khác, những người này cũng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2025 (sau đây gọi tắt là Bộ luật tố tụng hình sự).

Đối chiếu lời khai của bị cáo Lý Trung H tại phiên tòa với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; Kết luận giám định số: 14503/KL-KTHS ngày 12/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh; lời khai của người làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ, lời khai khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lý Trung H đã phạm tội «Mua bán trái phép chất ma túy» và phạm tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy», tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251, Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2025 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 2015).

Bị cáo Lý Trung H đã mua bán chất ma túy ở thể rắn và thời điểm bắt quả tang (vào lúc 18 giờ 30 phút ngày 03/12/2024 tại khu vực trước nhà số 211 đường THĐ, Phường N, Quận F), đã thu giữ trong túi quần nhỏ phía trước bên phải của bị cáo 01 gói nylon, bên trong có 2,4870 gam ma túy, loại Methamphetamine (bị cáo khai gói ma túy bị thu giữ này là của bị cáo mua và cất giữ nhằm mục đích để bán thu lợi). Hành vi này của bị cáo đã cấu thành tội «Mua bán trái phép chất ma túy» thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Thành phố Hồ Chí Minh) truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên, là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Ngoài ra, khi khám xét nơi ở của bị cáo Lý Trung H tại phòng trọ nhà số 613/7 đường ADV, phường ALA, quận BT vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 03/12/2024, Công an đã thu giữ của bị cáo 01 gói nylon, bên trong có 0,2697 gam ma túy, loại Methamphetamine; 01 ống thủy tinh, bên trong có 0,0718 gam ma túy, loại Methamphetamine (bị cáo khai số ma túy bị thu giữ tại phòng trọ là của bị cáo mua và cất giữ để dành sử dụng, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy khác). Và tổng khối lượng Methamphetamine mà bị cáo cất giữ để sử dụng là 0,3415 gam, nên ngoài hành vi mua bán trái phép chất ma túy nêu trên, bị cáo Lý Trung H còn phạm tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» thuộc trường hợp «Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam» theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, đúng như Viện kiểm sát đã truy tố.

Hành vi của bị cáo Lý Trung H không những đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về chế độ độc quyền trong việc quản lý, trao đổi, cất giữ chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an xã hội.

Bị cáo Lý Trung H là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; bị cáo hoàn toàn nhận thức được tác hại của ma túy, nhận thức được hành vi mua bán, cất giữ trái phép chất ma túy, là hành vi vi phạm pháp luật, được quy định trong Bộ luật hình sự, nhưng do hám lợi, để thỏa mãn lối sống không lành mạnh và nhất là xem thường pháp luật, nên bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

Về nhân thân của bị cáo Lý Trung H: Ngày 04/3/2024, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc 12 tháng về hành vi sử dụng chất ma túy. Ngoài ra, bị cáo còn có nhân thân xấu (ngày 07/5/2013, bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm về tội «Đánh bạc»; ngày 07-09/12/2016, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội «Mua bán trái phép chất ma túy»). Cho thấy tuy đã được cải tạo, giáo dục, bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Chứng tỏ ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo là không tốt.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Lý Trung H là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng. Mặt khác, ma túy nói chung và các chất ma túy ở thể rắn như Methamphetamine nói riêng là chất gây nghiện độc hại, việc sử dụng ma túy đã gây tác hại rất lớn và ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe, làm mất khả năng lao động, học tập của chính người sử dụng và đây cũng chính là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, do đó Hội đồng xét xử thấy cần phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, nhằm đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo và để phòng ngừa chung, góp phần vào công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay, nhất là các tội phạm về ma túy. Tuy nhiên, xét bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo khi lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Những nhận định trên cũng là căn cứ để chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt tù, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo Lý Trung H theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Việc xử lý vật chứng:

Phương tiện mà bị cáo Lý Trung H dùng vào việc phạm tội là 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh (bị hư màn hình), Hội đồng xét xử tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 gói bên ngoài ghi vụ số: 4600/24/Q6/1, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Lê Thị H1 và cán bộ điều tra Vương Phan Khánh A, bên trong chứa tinh thể (m1) có khối lượng 0,1911 gam; 01 gói bên ngoài ghi vụ số: 4600/24/Q6/2, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Lê Thị H1 và cán bộ điều tra Vương Phan Khánh A, bên trong chứa tinh thể (m2) có khối lượng 2,2881 gam; 01 gói bên ngoài ghi vụ số: 4600/24/Q6/3, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Lê Thị H1 và cán bộ điều tra Vương Phan Khánh A, bên trong chứa tinh thể (m3) có khối lượng 0,0161 gam (tất cả là mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định); 01 bình gas; 01 chai nhựa có gắn ống hút bằng nhựa; 01 sim điện thoại số seri: 8401230450079169 (bị cáo khai có số thuê bao 0907955511, trong chiếc điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh), là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, vật không có giá trị hoặc không sử dụng được, nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 chiếc xe đạp màu trắng, hiệu MODELTIME (cũ, hỏng) thu giữ của bị cáo Lý Trung H. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị trả lại cho bà Hà Phối L (vợ của bị cáo), vì quá trình điều tra xác định chiếc xe này là tài sản hợp pháp của bà L và bà L không biết bị cáo đã sử dụng chiếc xe của bà làm phương tiện phạm tội. Xét đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

(theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 88/PNK ngày 29 tháng 4 năm 2025 của Công an Thành phố Hồ Chí Minh - Phân trại tạm giam khu vực 6; Quyết định chuyển vật chứng số: 47/QĐ-VKS-Q6 ngày 26 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 6; Biên bản giao nhận tang tài vật số: NK2025/495 ngày 15 tháng 7 năm 2025 giữa Công an Thành phố Hồ Chí Minh (PC04) và Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh)

Đối với 01 thẻ nhớ (chứa file dữ liệu nôi dung tin nhắn được trích xuất từ chiếc điện thoại của Lý Trung H) đã được niêm phong (BL145), là chứng cứ lưu hồ sơ, do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Đối với người tên T1 mua ma túy của Lý Trung H và người tên T2 bán ma túy cho Lý Trung H. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị lúc nào Cơ quan điều tra xác minh làm rõ xử lý sau, do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Mặc dù tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lý Trung H khai đã nhiều lần mua ma túy của người tên T2 để sử dụng, nhưng xét ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác, nên Hội đồng xét xử không đủ căn cứ xác định bị cáo phạm tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» thuộc trường hợp «Phạm tội 02 lần trở lên».

Về án phí: Bị cáo Lý Trung H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2025.

- Xử phạt bị cáo Lý Trung H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội «Mua bán trái phép chất ma túy» và 02 (hai) năm tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy». Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/12/2024.

- Căn cứ khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2025.

Buộc bị cáo Lý Trung H nộp phạt 5.000.000 (năm triệu) đồng.

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2025; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2025.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh (bị hư màn hình).

- Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2025; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2025.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) gói bên ngoài ghi vụ số: 4600/24/Q6/1, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Lê Thị H1 và cán bộ điều tra Vương Phan Khánh A, bên trong chứa tinh thể (m1) có khối lượng 0,1911 (không phẩy một chín một một) gam; 01 (một) gói bên ngoài ghi vụ số: 4600/24/Q6/2, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Lê Thị H1 và cán bộ điều tra Vương Phan Khánh A, bên trong chứa tinh thể (m2) có khối lượng 2,2881 (hai phẩy hai tám tám một) gam; 01 (một) gói bên ngoài ghi vụ số: 4600/24/Q6/3, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Lê Thị H1 và cán bộ điều tra Vương Phan Khánh A, bên trong chứa tinh thể (m3) có khối lượng 0,0161 (không phẩy không một sáu một) gam; 01 (một) bình gas; 01 (một) chai nhựa có gắn ống hút bằng nhựa; 01 (một) sim điện thoại số seri 8401230450079169 (bị cáo khai số thuê bao 0907955511).

- Căn cứ khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2025.

Trả lại bà Hà Phối L 01 (một) chiếc xe đạp màu trắng, hiệu MODELTIME (cũ, hỏng).

(theo Biên bản giao nhận tang tài vật số: NK2025/495 ngày 15 tháng 7 năm 2025 giữa Công an Thành phố Hồ Chí Minh (PC04) và Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh)

- Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2025; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Lý Trung H phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Bị cáo Lý Trung H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ