vanban.org

Bản án 05/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Điểu U - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 14
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HS-ST
Ngày 25-7-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thành Liêm

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Kim Phụng

Ông Nguyễn Thành Vui

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhi - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 14-Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Kỳ - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 14, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu Vực 14, tỉnh Đồng Nai đối với bị cáo:

Điểu U , sinh ngày 15/2/1994, tại Bình Phước; Nơi cư trú: ấp 8, xã Lộc Ninh, tỉnh Đồng Nai (địa chỉ cũ ấp 8, xã Lộc Thuận, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: XTiêng (STiêng); giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Điểu T và bà Thị ChH. Bị cáo chưa có vợ

Tiền án: Không; Tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/3/2025, đến ngày 19/3/2025 tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người chứng Kiến: ông Lâm T sinh năm 1964 (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp Bồn Xăng, xã Lộc Quang, tỉnh Đồng Nai

Ông Nguyễn Đức B, sinh năm 1986 (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp Bồn Xăng, xã Lộc Quang, tỉnh Đồng Nai

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 45 phút ngày 10/03/2025, Điểu U có nhu cầu sử dụng ma túy nên điều khiển xe mô tô biển số: 93F1-351.95 từ nhà thuộc ấp 8, xã Lộc Thuận qua xã Lộc Quang để mua ma tuý đá về sử dụng. Khi đến đoạn đường thuộc ấp Bồn Xăng, Lộc Quang, Điểu U gặp một người thanh niên ( không rõ họ tên địa chỉ). Điểu U hỏi người thanh niên này mua 200.000đ ma túy đá, thì người thanh niên này đồng ý. Sau đó, Điểu U đưa 200.000đ cho người thanh niên, rồi người thanh niên đưa cho Điểu U một gói nylon được hàn kính hai đầu bên trong có chứa ma túy,xong người thanh niên này bỏ đi. Còn Điểu U bỏ gói ma túy vào túi quần bên trái để đi về. Trên đường về đến đoạn đường ấp Bồn Xăng, xã Lộc Quang thì bị Công an xã Lộc Quang bắt quả tang cả người cùng tang vật

Vật chứng và tài sản thu giữ:

- 01 (một) gói nylon được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy được niêm phong ký hiệu M.

- 01 (một) xe mô tô biển số 93F1 -351.95. Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành khám xét nơi ở của Điểu U không thu được vật chứng gì liên quan trong vụ án.

Căn cứ bản kết luận giám định số: 272/KL-KTHS ngày 17/3/2025của Phòng kỹ thuật hình sự Công tỉnh Bình Phước kết luận: tinh thể màu trắng (ký hiệu M) có trong 01 gói nylon hàn kín, được niêm phong gửi đi giám định là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,1299 gam.

Tại bản cáo trạng số: 56/CT-VKSLN, ngày 23/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14-Đồng Nai) truy tố Điểu U về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Điểu U phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Điểu U từ 18 đến 21 tháng tù.

Vật chứng vụ án:

Đề nghị tịch thu tiêu hủy Mẫu vật hoàn lại sao khi giám định bên ngoài dán giấy niêm phong có dấu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước.

Bị cáo không tranh luận và không kêu oan.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, có đủ cơ sở khách quan để kết luận:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy, ngày 10/3/2024, Điểu U điều khiển xe mô tô biển số 93F1-351.95 của ông Điểu Tung là cha của bị cáo, đi từ nhà đến ấp Bồn Xăng, xã Lộc Quang gặp một người thanh niên (không rõ họ tên). Mua 200.000đ ma túy. Mua được ma túy Điểu U bỏ ma túy trong túi quần bên trái rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Khi đến ấp Bồn Xăng, xã Lộc Quang thì bị Công an xã Lộc Quang bắt quả tang

Theo kết luận giám định số 272/KL-KTHS ngày 17/3/2024 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước tinh thể màu trắng (ký hiệu M), được niêm phong gửi đi giám định là ma túy, loại Methemphetamine

Mục đích mua ma túy của bị cáo cất giữ để sử dụng ngoài ra không có mục đích nào khác.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, hành vi tàng trữ,sử dụng trái phép chất ma túy là một trong những tệ nạn xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe bản thân bị cáo, tạo ra gánh nặng cho gia đình và xã hội, bị cáo biết rõ việc sử dụng chất ma túy bị pháp luật cấm, người vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật nhưng vì nghiện bị cáo vẫn cố ý mua và cất giấu để sử dụng, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Tại thời điểm phạm tội và trong phiên tòa, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Xét về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo là người dân tộc thiểu số, nên được Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1,2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 14-Đồng Nai đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo như trong bản luận tội là phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử .

Về vật chứng vụ án:

Đối với Mẫu vật hoàn lại sao khi giám định, bên ngoài dán giấy niêm phong có đóng dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước là vật cấm sử dụng cần tịch thu tiêu hủy

Đối với xe mô tô của bị cáo sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy là tài sản của Điểu Tung là cha của bị cáo, ông Tung không biết bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy, Cơ quan cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng trả cho ông Tung.

Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Điểu U phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2.Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 50,Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Điểu U 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày 11/3/2025.

Tiếp tục tạm giam bị cáo trong thời hạn 45 ngày tính từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.

3. Về vật chứng vụ án:

Áp dụng điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sao khi giám định bên ngoài dán giấy niêm phong có dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0007191 ngày 25/6/2025 của Chi cục thi hành án huyện Lộc Ninh).

4. Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy ñònh veà mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa áùn.

Bị cáo Điểu U phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ