vanban.org

Bản án 05/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia

giao thông đường bộ”. Điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HSST - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
TÒA ÀN NHÂN DÂN KHU VỰC 11

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HS-ST
Ngày 14 tháng 8 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kiên Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng.

Ông Lê Hữu Vị.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực

11 - Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ tham gia

phiên toà: Ông Dương Mạnh Cường, Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú

Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo:

Hoàng Văn T, sinh ngày 02 tháng 02 năm 1985; Nơi đăng ký hộ khẩu và

chỗ ở: thôn Trại Giềng, xã Thanh Vân, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã Hội Thịnh, tỉnh Phú Thọ); Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn lớp 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Hoàng Văn H, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1956; vợ Nguyễn Thị Hạnh, sinh năm 1982; Có 02 con ( lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2008). Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú, (có mặt).

Người bị hại: Ông Đỗ Quý T, sinh năm 1956 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Anh Đỗ Quý C, sinh năm

1986.

Trú tại thôn Y, xã Y, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty CP Bê Tông 689 Vĩnh

Phúc. Đại diện ông Tưởng Duy T, sinh năm 1989 – Phó Giám đốc. (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau: Hoàng Văn T, trú tại thôn Trại Giềng, xã Thanh Vân, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã Hội Thịnh, tỉnh Phú Thọ) có giấy phép lái xe hạng C (thời hạn đến ngày 16/11/2028) lái xe thuê cho công ty Cổ phần bê tông 689 Vĩnh Phúc (gọi tắt là công ty 689). Khoảng từ 19 giờ đến 20 giờ ngày 14/3/2025, T cùng 04 người bạn uống bia tại quán Đức Duy ở xã Hướng Đạo, huyện Tam Dương (nay là xã Tam Dương, tỉnh Phú Thọ), bản thân T uống khoảng hơn 2 lít bia, sau đó T về công ty 689 ngủ đến sáng ngày 15/3/2025 thì làm việc tại công ty. Khoảng 12 giờ 20 phút cùng ngày, T được công ty giao nhiệm vụ cùng anh Đào Văn B ở xã Quang Yên, huyện Sông Lô (nay là xã Yên Lãng, tỉnh Phú Thọ) điều khiển xe ôtô bơm bê tông BKS: 88C- 205.03, màu sơn vàng từ thị trấn Gia khánh, huyện Bình Xuyên (nay là xã Bình Xuyên, tỉnh Phú Thọ) đến xã Yên Lãng, tỉnh Phú Thọ. Khoảng 13 giờ 50 phút cùng ngày, T điều khiển xe theo đường tỉnh lộ 307 hướng xã Tam Sơn đi xã Yên Lãng, khi đến địa phận thuộc thôn Y, xã Yên Lãng, T nhìn thấy ở bên phải đường có biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên và trên mặt đường phía trước có gờ giảm tốc nhưng T không giảm tốc độ (vẫn đi với vận tốc khoảng từ 40 đến 45km/h), đồng thời T nhìn thấy phía trước khoảng 100m, cách lề đường đường bên trái khoảng 50cm, hướng ngược chiều có ông Đỗ Quý T, trú tại thôn Yên Sơn điều khiển xe môtô BKS: 88C1-04376 đang dừng lại nhường đường cho các phương tiện đi cùng chiều, phía sau ông T1. T nghĩ ông T1 sẽ tiếp tục dừng lại nhường đường nên vẫn giữ nguyên tốc độ. Khi thấy ông T1 điều khiển xe sang ngang đến khoảng giữa phần đường T điều khiển xe (trong khu vực có gờ giảm tốc), lúc này khoảng cách giữa xe ôtô do T điều khiển và xe môtô do ông T1 điều khiển khoảng 18m thì T mới đạp phanh, xe ôtô rê trên mặt đường, T đánh lái sang bên trái để tránh thì đầu xe bên phải của xe ôtô đâm trúng sườn và đuôi xe bên phải của xe môtô do ông T1 điều khiển, ông T1 ngã văng đập đầu xuống nền đường, chấn thương sọ não. T và người dân đưa ông T2 đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ, đến 17 giờ 30 phút cùng ngày, ông Thường tử vong.

Tại kết luận giám định tử thi số 813 ngày 01/4/2025 của Phòng kỹ thuật hình

sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc (nay là tỉnh Phú Thọ) kết luận: Nguyên nhân chết của Đỗ Quý Thường là do Chấn thương sọ não.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 07 ngày 24/4/2025 của Hội đồng định

giá tài sản trong tố tụng huyện Sông Lô kết luận: Giá trị thiệt hại của xe môtô BKS: 88C1-043.76 là 452.000đ và giá trị thiệt hại của xe ôtô BKS: 88C-205.03 là 3.567.000đ.

Tại bản kết luận giám định số 737 ngày 26/3/2025 của Phòng Kỹ thuật

hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận: Trong mẫu chất lỏng màu nâu đỏ thu của Hoàng Văn Tuyên gửi giám định có cồn (Ethanol). Nồng độ cồn (Ethanol) trong mẫu gửi giám định là 32,496mg/100ml mẫu.

Tại bản kết luận giám định số 797 ngày 01/4/2025 của Phòng kỹ thuật hình

sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc (nay là tỉnh Phú Thọ) kết luận: Mẫu chất màu vàng bám dính trên đề can bên phải ốp sườn xe môtô BKS: 88C1-043.76 cùng loại với mẫu sơn thu tại ba đờ sốc phía trước bên phải xe ôtô BKS: 88C-205.03.

Sau khi xảy ra vụ tai nạn giao thông, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an

tỉnh Vĩnh Phúc đã phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành vẽ sơ đồ hiện trường, chụp ảnh, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện liên quan vụ tai nạn giao thông theo quy định pháp luật và các bên liên quan không có ý kiến gì.

Đối với ông T1, khi điều khiển xe môtô không có giấy phép lái xe theo quy

định. Quá trình điều tra xác định chiếc xe môtô BKS: 88C1-043.76 là của anh Đỗ Quý C (con trai ông T1). Ngày 15/3/2025, anh C đi làm vắng, vẫn cắm chìa khoá điện trên xe, ông T1 tự ý lấy xe điều khiển tham gia giao thông, gây tai nạn. Anh C không có hành vi giao xe cho ông T1 nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

Đối với đại diện Công ty 689 Vĩnh Phúc, ngày 15/3/2025, khi giao xe cho

Tuyên không biết trước đó T uống bia và trong máu có nồng độ cồn nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý về hành vi giao xe cho người không đủ điều kiện tham gia giao thông đường bộ là có căn cứ và tại phiên tòa đại diện Công ty CP Bê Tông 689 Vĩnh Phúc, ông Tưởng Duy T trình bày đối với thiệt hại về tài sản xe ôtô BKS: 88C-205.03. Công ty không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì.

Tại phiên tòa người đại diên hợp pháp của người bị hại anh Đỗ Quý C

trình bày: Sau khi xảy ra tai nạn, ông T1 được T và mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ, bị cáo T đã thăm hỏi động viên bồi thường cho gia đình anh số tiền 70.000.000đ tiền chi phí điều trị, mai táng, tinh thần và các chi phí khác, tại cơ quan điều tra và phiên tòa anh có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo và không yêu cầu bị cáo Tuyên phải bồi thường gì thêm. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại bản cáo trạng số: 05/CT – VKSKV11 ngày 22/7/2025 Viện kiểm sát

nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ đã truy tố Hoàng Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ luận

tội đối với bị cáo Hoàng Văn T giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia

giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời

hạn thử thách 05 năm. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung và xử lý vật chứng theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, ăn

năn hối hận, bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại điện viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì.

Trong lời nói sau cùng bị cáo và người đại diện hợp pháp của người bị hại

xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an

tỉnh Vĩnh Phúc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn Tuyên đã khai nhận toàn bộ hành vi

phạm tội của mình như nội dung cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ, bị cáo khai nhận: Khoảng 13 giờ 50 phút ngày 15/3/2025, Hoàng Văn Tuyên (có giấy phép lái xe hạng C, thời hạn đến ngày 16/11/2028) điều khiển xe ôtô BKS: 88C-205.03 hướng từ xã Đồng Quế (nay là xã Tam Sơn) đi xã Quang Yên (nay là xã Yên Lãng, tỉnh Phú Thọ), theo đường tỉnh lộ 307. Khi đi đến đoạn đường có biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau và gờ giảm tốc thuộc địa phận thôn Yên Sơn, xã Yên Lãng, tỉnh Phú Thọ. Tuyên quan sát phía trước cách xe Tuyên khoảng 100m có xe môtô BKS: 88C1- 043.76 do ông Đỗ Quý Thường ở thôn Yên Sơn điều khiển đang đi ngược chiều đến và đang rẽ sang bên phải đường theo chiều xe đi của Tuyên, lúc này T đang điều khiển xe đi với tốc độ khoảng 45km/h, khi còn cách xe ông T1 khoảng 18m Tuyên mới đạp phanh đánh lái sang bên trái đường để tránh, nhưng do Tuyên chủ quan không làm chủ tốc độ nên đã đâm vào bên phải xe môtô do ông T1 điều khiển làm ông Thường bị ngã xuống nền đường chấn thương sọ não tử vong. Xe môtô bị hư hỏng trị giá 452.000đ. Quá trình điều tra, T đã bồi thường cho gia đình anh C số tiền 70.000.000đ.

Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như

lời khai, bản kiểm điểm của bị cáo tại cơ quan điều tra, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện giao thông liên quan đến việc tai nạn, kết luận giám định tử thi, kết luận định giá tài sản liên quan đến việc tai nạn, bản ảnh chụp tại hiện trường cùng các tài liệu chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hành vi điều khiển xe ôtô của Hoàng Văn T trong máu có nồng độ cồn; khi đến đoạn đường có biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau và gờ giảm tốc đã không giảm tốc độ, gây tai nạn làm 01 người chết đã vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 9; khoản 1 Điều 10; khoản 1 Điều 11; điểm a và b khoản 3 Điều 12 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ.

Tại khoản 2 Điều 9 quy định: “Điều 9. Các hành vi bị nghiêm cấm…

2. Điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong máu ...

có nồng độ cồn.”

Tại khoản 1 Điều 10 quy định:“Điều 10. Quy tắc chung

1. Người tham gia giao thông đường bộ phải ... chấp hành báo hiệu đường

bộ và các quy tắc giao thông đường bộ khác.”

Tại khoản 1 Điều 11 quy định:“Điều 11. Chấp hành báo hiệu đường bộ

1. Báo hiệu đường bộ bao gồm: ...biển báo hiệu đường bộ; vạch kẻ đường

và các dấu hiệu khác trên mặt đường....”

Tại điểm a và b khoản 3 Điều 12: 3. Người điều khiển phương tiện tham

gia giao thông đường bộ phải quan sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại để bảo đảm an toàn trong các trường hợp sau đây:

a) Tại nơi có vạch kẻ đường ...

b) Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm...”

Do vậy hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông

đường bộ, làm thiệt hại về tính mạng, tài sản của người khác. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi của Hoàng Văn T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội danh và hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự

“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03

năm đến 10 năm:

b) Trong tình trạng có sử dụng…, bia mà trong máu….có nồng độ

cồn…..”.

Do đó bản cáo trạng số: 05/CT – VKSKV11 ngày 22/7/2025 của Viện kiểm

sát nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bị oan.

Xét tính chất của vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là

nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý giao thông đường bộ gây tổn hại đến sức khỏe của người khác, ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương. Nguyên nhân chủ yếu là do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người điều khiển phương tiện giao thông còn kém. Đối chiếu với yêu cầu phòng chống tội phạm ở địa phương cần xử phạt bị cáo tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, có như vậy mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo và dăn đe những người khác góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm.

Xét về nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách

nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải, sau khi xảy ra sự việc bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả với số tiền 70 triệu đồng để thăm hỏi, động viên và giúp gia đình người bị hại chi phí tổ chức việc mai táng, thờ cúng, tổn thất tinh thần và tài sản cho gia đình người bị hại, đại diện gia đình người bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo và xin cho bị cáo cải tạo tại địa phương, trong vụ án này người bị hại cũng có phần lỗi tham gia giao thông không có giấy phép lái xe và khi sang đường không chú ý quan sát dẫn đến việc xảy ra tai nạn, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người có khả năng tự cải tạo và nếu không phải bắt đi chấp hành hình phạt tù thì không ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, bị cáo có nơi cư trú ổn định, hành vi phạm tội của bị cáo chưa đến mức độ phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam mà chỉ áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách như đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cũng như tạo điều kiện để cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định

tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự như đề nghị của Viện kiển sát đối với bị cáo là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo đã tự nguyện bồi

thường số tiền 70.000.000đ gồm tiền chi phí điều trị, tiền mai táng phí, tổn thất tinh thần, các bộ phận bị hư hỏng của xe môtô...., anh Đỗ Quý C đã nhận đủ số tiền trên và đến nay không có yêu cầu bị cáo Tuyên bồi thường gì thêm. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét và quyết định.

Về xử lý vật chứng: Trả lại cho Hoàng Văn T 01 giấy phép lái xe hạng

C số: 260135015692 (mang tên Hoàng Văn T) là phù hợp.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo T phải chịu theo quy định pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia

giao thông đường bộ”.

2. Điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260;

Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Hoàng Văn T 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo.

Thời gian thử thách 05 (năm) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Giao Hoàng Văn Tuyên cho UBND xã H, tỉnh Phú Thọ (xã T, huyện Tam

Dương, tỉnh Vĩnh Phúc cũ) giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng và án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ

luật hình sự; các Điều 106, 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, ..............nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Trả lại cho Hoàng Văn T 01 giấy phép lái xe hạng C số: 260135015692

(mang tên Hoàng Văn T). Nhưng cần tạm giữ để đảm bảo Thi hành án.

4. Án phí: Buộc bị cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự

sơ thẩm.

5. Án xử công khai: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại có

quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ