- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn Lợi - ,MBMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2025/HS-ST Ngày 23-7-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Đức Khoa
Ông Bùi Đình Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Thuỷ, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Hiến - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Hải Phòng, Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 01/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Văn L, sinh năm 1990, tại Hải Phòng; nơi cư trú Tổ dân phố Trung, phường Lưu Kiếm, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do, trình độ văn hoá: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Đ và bà Đào Thị N; tiền sự: Không; tiền án: Bản án số 11/2020/HS-ST ngày 18-02-2020 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt 05 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, Bản án phúc thẩm số 32/2020/HS-PT ngày 29/4/2020 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xử y án sơ thẩm. Bị cáo bị tạm giữ từ 11-02-2025 đến ngày 14-02-2025 chuyển tạm giam. có mặt.
Người có quyền L, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Tùng S, sinh năm 1992, nơi cư trú: Tổ dân phố Trung, phường Lưu Kiếm, thành phố Hải Phòng. vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do bản thân nghiện ma túy nên Lê Văn L nảy sinh ý định mua ma túy về chia nhỏ bán kiếm lời. Khoảng 23 giờ, ngày 10-02-2025, L sang đường tàu nội thành Hải Phòng mua của người phụ nữ không quen biết 01 túi ma túy đá giá 2.200.000 đồng và 04 gói heroine với giá 200.000 đồng/gói. Mua được ma túy, L mang về cất giấu tại tủ quần áo trong phòng ngủ với mục đích khi nào có người mua thì chia nhỏ để bán. Khoảng 10 giờ 50 phút ngày 11-02-2025, S gọi điện hỏi mua 01 túi ma túy đá giá 500.000 đồng, L đồng ý bán và hẹn giao dịch tại nơi ở của L. Sau đó, S cùng Đức đến, khi đang giao dịch thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ vật chứng như trên.
Ngoài ra, trong khoảng thời gian từ ngày 07-02-2025 đến ngày 10-02-2025, tại nơi ở của mình, L đã bán ma túy nhiều lần cho Đào Văn Dũng, sinh năm 1989, trú tại phường Lưu Kiếm; Hoàng Phú Trường, sinh năm 1991, trú tại phường Lê Ích Mộc, Hoàng Mạnh Nghĩa, sinh năm 1992, trú tại phường Bạch Đằng, thành phố Hải Phòng và Nguyễn Tùng S, cụ thể như sau: Lần 1: Khoảng 19 giờ ngày 07-02-2025, L bán cho Dũng và Trường 01 túi ma túy đá với giá 500.000 đồng (Dũng góp 200.000 đồng, Trường góp 300.000 đồng). Lần 2: Khoảng 18 giờ ngày 09-02-2025, L bán cho Dũng và Nghĩa 01 túi ma túy đá với giá 500.000 đồng (mỗi người góp 250.000 đồng). Lần 3: Khoảng 19 giờ ngày 10/02/2025, L bán cho Dũng và S 01 túi ma túy đá với giá 500.000 đồng (mỗi người góp 250.000 đồng).
Vật chứng của vụ án gồm: 01 bì giấy dấu niêm phong số 143MT/PC09 (trong chứa số ma túy cùng vỏ bao bì còn lại sau giám định), 02 điện thoại di động thu của L và S; số tiền 500.000 đồng chuyển Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
Tại Kết luận giám định số 143/KL-KTHS ngày 14/02/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Tinh thể màu trắng trong túi nilon thu của S là ma túy có khối lượng 0,01 gam, loại methamphetamine; chất bột màu trắng trong 02 túi nilon kích thước (1,5x1,5cm) là ma túy có khối lượng 0,26 gam, loại heroine; chất bột màu trắng trong 02 gói giấy bạc màu trắng là ma túy, có khối lượng 0,73 gam, loại heroine; tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon kích thước (4x6)cm là ma túy có khối lượng 2,56 gam, loại methamphetamine.
Lời khai của các đối tượng Đào Văn Dũng, Hoàng Phú Trường, Hoàng Mạnh Nghĩa, Nguyễn Tùng S và Phạm Hoàng Đức phù hợp với nội dung trên.
Tại phiên tòa bị cáo trình bày thống nhất về hành vi như đã nêu trên, đồng ý với nội dung Kết luận giám định, không có ý kiến hay khiếu nại gì.
Tại Bản cáo trạng số 107/CT-VKS ngày 04 tháng 7 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Hải Phòng đã truy tố Lê Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b,c,q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị: Áp dụng điểm b, c, q khoản 2 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 10 năm đến 11 năm tù giam, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy dấu niêm phong số 143MT/PC09 bên trong chứa số ma túy cùng vỏ bao bì còn lại sau giám định. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 02 điện thoại di động thu của L và S; số tiền 500.000 đồng. Truy thu số tiền 1.500.000 đồng do L bán ma tuý vào các ngày từ 07, 09, 10 tháng 02/2025 sung Ngân sách Nhà nước. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo trình bày nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm đã thực hiện, tỏ ra ăn năn, hối cải và mong muốn được sự khoan hồng của pháp luật, được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định trong quá trình tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, của người được giao thẩm quyền tiến hành tố tụng đối với vụ án trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh, định khung hình phạt: Trong khoảng thời gian từ ngày 07 đến ngày 11 tháng 02 năm 2025, tại nơi ở của Lê Văn L ở tổ dân phố Trung, phường Lưu Kiếm, thành phố Hải Phòng, Lê Văn L đã 04 lần bán trái phép chất ma tuý cho Đào Văn Dũng, Hoàng Phú Trường, Hoàng Mạnh Nghĩa, Nguyễn Tùng S, Phạm Hoàng Đức và bị công an phát hiện bắt quả tang ngày 11-02-2025. Lượng ma tuý công an thu giữ được là 2,57 gam Methamphetamine, 0,99 gam heroin. Tại Bản án số 11/2020/HS-ST ngày 18-02-2020 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, nay là Toà án nhân dân Khu vực 1- Hải Phòng xử phạt Lê Văn L 05 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, Bản án phúc thẩm số 32/2020/HS-PT ngày 29/4/2020 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xử y án sơ thẩm. Bị cáo chưa được xoá án tích đối với bản án trên, nay lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý thuộc tội rất nghiêm trọng nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b (phạm tội 02 lần trở lên), c (đối với 02 người trở lên), q (tái phạm nguy hiểm) khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Tệ nạn ma túy đang là hiểm họa lớn đối với toàn xã hội, gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Với phân tích trên, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn và xử phạt bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, điều kiện kinh tế của bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng, xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy dấu niêm phong số 143MT/PC09 bên trong chứa số ma túy cùng vỏ bao bì còn lại sau giám định. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 02 điện thoại di động thu giữ của L và S; số tiền 500.000 đồng. Truy thu số tiền 1.500.000 đồng của L có được do bán ma tuý vào các ngày 07,09,10 tháng 02 năm 2025 nộp sung Ngân sách Nhà nước.
Về những vấn đề khác: Vụ án này không có dấu hiệu của việc bỏ lọt tội phạm hoặc hành vi phạm tội mới nên Hội đồng xét xử không phân tích chứng cứ để xem xét việc khởi tố vụ án hay yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự.
Đối tượng bán ma túy cho bị cáo qúa trình điều tra chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không có cơ sở xử lý. Các đối tượng Nguyễn Tùng S và Phạm Hoàng Đức bị bắt quả tang khi mua ma túy của Lê Văn L để sử dụng cho bản thân nhưng lượng ma túy không đủ truy cứu trách nhiệm hình sự; Đào Văn Dũng, Hoàng Phú Trường, Hoàng Mạnh Nghĩa có hành vi mua ma túy của L để sử dụng nhưng không thu giữ được ma túy, các đối tượng chưa có tiền án, tiền sự liên quan đến ma túy nên Công an thành phố Hải Phòng xử phạt vi phạm hành chính.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền L, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b, c, q khoản 2 Điều 251; Điều 38 điểm s. khoản 1 Điều 51; Bộ luật Hình sự, Tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Xử phạt: Lê Văn L 10 năm tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính ngày tạm giữ 11 tháng 02 năm 2025.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy dấu niêm phong số 143MT/PC09 bên trong chứa số ma túy cùng vỏ bao bì còn lại sau giám định. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia gắn sim số 0901575695; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO gắn sim số 0977791647; số tiền 500.000 đồng (theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18 tháng 6 năm 2025, biên lai thu tiền số 0009967 ngày 20 tháng 6 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuỷ Nguyên nay là Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng). Lê Văn L phải nộp số tiền 1.500.000 đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền L nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án liên quan đến quyền L, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Người có quyền L, nv liên quan;
- TAND TP Hải Phòng;
- VKSND TP Hải Phòng;
- VKSND cùng cấp;
- THADS TP Hải Phòng;
- Cơ quan thi hành án hình sự;
- Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng;
- UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
Nguyễn Thị Mai
- Phòng PV06, PC10;
- Lưu: VT; HCTP; Hồ sơ vụ án.
Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:
Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:
(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (huyện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).
(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).
(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.
(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán..., đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của
Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của
Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.
(6) ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).
(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).
(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.
(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.
(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thân ghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp thì ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họ tên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền L, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ quyền L cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự; nếu người bảo vệ quyền L của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền L cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.
(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.
(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].
(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.
(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:
| Nơi nhận: Ghi những nơi mà Tòa án cấp sơ thẩm phải giao THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA hoặc gửi bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 262 của Bộ luật Tố tụng hình sự và những nơi cần lưu bản án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |