- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh, hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU TỈNH HOÀ BÌNH ––––––––––– Bản án số: 05/2025/HS-ST Ngày: 10-01-2025. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thanh Hòa;
Bà Lường Thị Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Cao – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Tới - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 62/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Hà Văn P, sinh ngày 25 tháng 3 năm 1983, tại huyện M, tỉnh Hòa Bình; nơi cư trú: Tổ dân phố V, thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn I (đã chết) và bà Hà Thị T, sinh năm 1958; bị cáo có vợ là Phạm Thị T (đã ly hôn) và có 01 con, sinh năm 2009.
Tiền án: Có 02 tiền án, đều chưa được xóa án tích.
- Ngày 29/7/2020, Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xử phạt 12 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số: 37/2020/HS-ST (chấp hành xong ngày 08/04/2021);
- Ngày 19/4/2022, Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xử phạt 26 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số: 14/2022/HS-ST (chấp hành xong ngày 23/01/2024).
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 21/10/2016, Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 20 tháng theo Quyết định số: 16/2016/QĐ-TA (đã chấp hành xong);
- Ngày 16/11/2021, Công an thị trấn Mai Châu, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản theo Quyết định số: 27/QĐ-XPHC (chưa chấp hành, nhưng đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt).
- Ngày 10/11/2021, Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 20 tháng theo Quyết định số: 36/QĐ-TA (chưa chấp hành nhưng thuộc trường hợp quy định tại Điều 117 Luật Xử lý vi phạm hành chính).
Bị cáo khai có sử dụng, nghiện chất ma túy. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/8/2024, chuyển tạm giam từ ngày 05/9/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 27/8/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự, Kinh tế, Ma túy Công an huyện Mai Châu chủ trì phối hợp với Công an thị trấn Mai Châu, Công an xã Cun Pheo đang làm nhiệm vụ tại xóm Pheo, xã Cun Pheo thì phát hiện Hà Văn P, sinh năm 1983, nơi cư trú: Tổ dân phố V, thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 28F3-58xx theo hướng Hang Kia – Cun Pheo có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu dừng lại để kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện trong lòng bàn tay trái của Hà Văn P đang cầm 01 gói nilon màu đỏ, bên trong có 02 gói nilon: 01 gói đựng các viên nén màu hồng, 01 gói đựng chất bột dạng cục màu trắng. P khai nhận đó là ma túy của P vừa mua được với mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong toàn bộ vật chứng theo quy định. Tại Cơ quan điều tra Hà Văn P khai nhận về nguồn gốc số ma túy trên như sau: Khoảng 11 giờ ngày 27/8/2024, Hà Văn P đã một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 28F3-58xx đi từ nhà lên khu vực xã Hang Kia để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đến xóm Thung Ẳng, xã Hang Kia, P có gặp và mua được ma túy với một người đàn ông dân tộc Mông, không rõ họ tên, địa chỉ, hết số tiền là 370.000 đồng. Sau khi mua được ma túy P đi vào vườn dong ngay gần đó và lấy 01 viên ma túy ra sử dụng hết, sau khi sử dụng xong P gói lại và cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái, tiếp tục điều khiển xe mô tô đi về nhà. Đến khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày, khi P đi đến địa phận xóm Pheo, xã Cun Pheo thì bị tổ công tác gồm Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự, Kinh tế, Ma túy Công an huyện Mai Châu chủ trì phối hợp với Công an thị trấn Mai Châu, Công an xã Cun Pheo kiểm tra, phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong toàn bộ vật chứng theo quy định.
Tại Kết luận giám định số: 433/KL-KTTS ngày 04/9/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận:
- Các viên nén và các mảnh viên nén màu hồng ký hiệu A1 trong phong bì niêm phong một mặt có ghi “Vật chứng thu giữ của Hà Văn P, SN: 1983, trú tại: TDP V, TT M, huyện M, tỉnh Hòa Bình” gửi giám định có tổng khối lượng 0,49g (Không phẩy bốn mươi chín gam), là ma túy, loại Methamphetamine.
- Chất bột dạng cục màu trắng ký hiệu A2 trong phong bì niêm phong một mặt có ghi “Vật chứng thu giữ của Hà Văn P, SN: 1983, trú tại: TDP V, TT M, huyện M, tỉnh Hòa Bình” gửi giám định có khối lượng 1,09g (Một phẩy không chín gam), là ma túy, loại Heroine.
Tại bản Cáo trạng số: 58/CT-VKSMC ngày 26 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu truy tố Hà Văn P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh, hình phạt: Đề nghị tuyên bố bị cáo Hà Văn P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Hà Văn P từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/8/2024.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng sử dụng, nghiện chất ma túy, không có việc làm ổn định, không có điều kiện thi hành nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
- Tuyên tịch thu toàn bộ số ma túy thu được, sau khi giám định số còn lại đã hoàn trả, để tiêu hủy.
Về vấn đề khác:
- Đối với người mà Hà Văn P khai đã bán ma tuý cho Phong, kết quả điều tra không xác định được tên tuổi, địa chỉ của người này, không xác định được là ai nên không có căn cứ đề nghị xử lý.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu LONGCIN biển kiểm soát 28F3-58xx, kết quả điều tra xác định bị cáo Hà Văn P là chủ sở hữu xe mô tô trên. Tuy bị cáo có khai dùng chiếc xe đi mua chất ma túy nhưng tại thời điểm bị bắt quả tang bị cáo cầm ma túy ở trong lòng bàn tay trái, hành vi của bị cáo không cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy, mà cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, nên xác định không dùng xe mô tô vào việc phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy, hơn nữa tại phiên tòa bị cáo còn khai xe mô tô này là phương tiện đi lại của cả gia đình nên đề nghị trả lại cho bị cáo Hà Văn P.
Đề nghị áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên về phần án phí và quyền kháng cáo.
Ý kiến của bị cáo: Bị cáo đã nhận được các văn bản tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án, quá trình điều tra, truy tố xét xử bị cáo đã được phổ biến quyền và nghĩa vụ, không bị ép cung, mớm cung, bị cáo đồng ý với nội dung Cáo trạng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, bị cáo không thuê Luật sư hoặc nhờ trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho mình, do nghiện ma túy nên bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng, ngoài ra không có mục đích gì khác, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 28F3-58xx do bị cáo là chủ sở hữu hợp pháp, nhưng chiếc xe này là phương tiện đi lại chung của cả gia đình. Bị cáo đề nghị trả lại xe cho mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Những chứng cứ xác định có tội: Bị cáo bị bắt, bị lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với vật chứng thu được, kết luận giám định cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ để kết luận:
Hà Văn P là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 27/8/2024, tại xóm Pheo, xã Cun Pheo, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình. Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự, Kinh tế, Ma túy Công an huyện Mai Châu chủ trì phối hợp với Công an thị trấn Mai Châu, Công an xã Cun Pheo bắt quả tang Hà Văn P đang tàng trữ 1,09 gam (Một phẩy không chín gam) ma túy loại Heroine và 0,49 gam (Không phẩy bốn chín gam) ma túy loại Methamphetamine. Tổng khối lượng hai chất ma túy Hà Văn P tàng trữ là 1,58 gam (Một phẩy năm mươi tám gam) với mục đích là để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không có mục đích khác.
Mặc dù bị cáo Hà Văn P có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng là 1,58 gam ma túy dưới mức tối thiểu theo quy định tại khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, nhưng trước đó Hà Văn P đã 02 lần (01 lần vào năm 2020 và 01 lần vào năm 2022) bị kết án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và cả hai lần kết án đều chưa được xóa án tích. Do vậy, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Hà Văn P lần này bị áp dụng tình tiết định khung là “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Như vậy có đủ căn cứ xác định bị cáo Hà Văn P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Chứng cứ xác định không có tội: Không có.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, biết rõ tác hại của ma tuý đối với bản thân, gia đình và xã hội, trong khi Nhà nước và toàn thể xã hội đang tìm mọi biện pháp phòng, chống tiến tới loại trừ tệ nạn ma tuý ra khỏi cộng đồng bởi tác hại rất lớn của nó, mặc dù đã từng bị kết án về tội phạm ma túy và bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc nhưng không có tiến bộ, không lấy đó là bài học bị cáo vẫn cố ý tàng trữ khối lượng 1,58 gam ma túy để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý Nhà nước về chất ma túy.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội, khối lượng tàng trữ là 1,58 gam ma túy, nguyên nhân, hậu quả của hành vi phạm tội, tiền án, tiền sự, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo nêu trên. Xét cần xử phạt tù có thời hạn với mức án nghiêm khắc, nhưng phù hợp đối với bị cáo, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, tạm giam sau khi tuyên án và về các vấn đề khác mà đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã có ý kiến đề nghị nêu trên. Xét thấy có căn cứ phù hợp quy định pháp luật cần xử lý, giải quyết theo hướng đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về án phí hình sự: Bị cáo Hà Văn P phải nộp án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh, hình phạt:
Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Hà Văn P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Xử phạt bị cáo Hà Văn P 05 năm 04 tháng tù. Thời hạn tính từ ngày tạm giữ 27/8/2024.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Methamphetamine và Heroine sau khi giám định số còn lại đã hoàn trả, được niêm phong trong 01 phong bì.
- Trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu LONGCIN, màu đen, biển kiểm soát 28F3-58xx, xe cũ đã qua sử dụng cho bị cáo Hà Văn P, sinh năm: 1983, nơi cư trú: Tổ dân phố V, thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình.
(Các Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu, tình trạng, đặc điểm cụ thể của các vật chứng được ghi trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 06/THA ngày 16/12/2024 giữa bên giao Công an huyện Mai Châu, bên nhận Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu).
3. Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bị cáo Hà Văn P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình để xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh HB; - STP tỉnh HB; - Trại tạm giam; Phòng Hồ sơ CAT; - VKSND huyện MC; - Cơ quan ĐT; Nhà tạm giữ CA huyện MC; - Chi cục THA dân sự; - Hồ sơ THAHS; - UBND tt Mai Châu, huyện Mai Châu; - Người TGTT; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Phạm Thanh Tùng |