- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Mạnh Q- Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mạnh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2025/HS-ST Ngày 06/01/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Thành Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quốc Tuấn và ông Nguyễn Hải Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lý Nhân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 104/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2024 và văn bản thay đổi kiểm sát viên số 01/CV-VKS-LN ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, đối với bị cáo:
Nguyễn Mạnh Q, sinh năm 1971 tại tỉnh Nam Định; nơi cú trú: Số 3/117 đường Đ, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1; vợ là chị Trần Thị H (đã ly hôn) và có 02 con (lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 2010);
- Tiền án: Không;
- Tiền sự: Ngày 11/10/2022, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng (chấp hành xong ngày 14/3/2024).
- Nhân thân:
+ Ngày 09/8/1988, Công an tỉnh H lập danh bản số 3122 về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”;
+ Ngày 08/6/2021, Công an phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, hình thức “Cảnh cáo” về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”;
+ Ngày 14/12/2021, Công an phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, hình thức “Cảnh cáo” về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”;
+ Ngày 24/12/2021, UBND phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, thời hạn 03 tháng (chấp hành xong ngày 24/3/2022);
+ Ngày 20/9/2022, Công an thành phố N, tỉnh Nam Định ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, hình thức “Phạt tiền” về hành vi “Đánh bạc trái phép dưới hình thức mua số đề”;
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 03/9/2024 đến ngày 12/9/2024 chuyển tạm giam đến nay; có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn K; vắng mặt.
+ Người chứng kiến: Ông Cao Thanh T2; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 35 phút ngày 03/9/2024, Tổ công tác của Công an xã N, huyện L đang làm nhiệm vụ tuần tra tại thôn D, xã N, huyện L. Tổ công tác phát hiện Nguyễn Mạnh Q, sinh năm 1971, trú tại số C đường Đ, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra hành chính đối với Nguyễn Mạnh Q. Quá trình kiểm tra phát hiện trong túi áo ngực bên trái Q đang mặc có 03 gói giấy bạc màu vàng, bên trong đều chứa chất bột màu trắng dạng cục (được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT). Tại chỗ Q khai chất bột màu trắng dạng cục trong 03 gói giấy bạc đều là ma tuý, loại Heroine, vừa mua và cất giữ để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Mạnh Q, thu giữ và niêm phong 03 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục. Sau đó làm thủ tục bàn giao Nguyễn Mạnh Q cùng các vật chứng đã thu giữ niêm phong đến Cơ quan Cảnh sát điều tra (sau đây viết tắt là: CSĐT) - Công an huyện L để điều tra theo thẩm quyền.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật của Nguyễn Mạnh Q tại 3/117 đường Đ, phường C, thành phố N, Cơ quan CSĐT không phát hiện thu giữ đồ vật, tài sản có liên quan đến vụ án.
Tại bản kết luận giám định số 680/KL-KTHS ngày 08/9/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh H kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,352g (Không phẩy ba trăm năm mươi hai gam) loại: Heroine”.
Về nguồn gốc chất ma túy đã thu giữ, theo Nguyễn Mạnh Q khai: Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 03/9/2024, Q đi nhờ xe máy từ nhà đến khu vực nghĩa trang thuộc xã N, huyện L để tìm mua ma tuý về sử dụng. Khi đến nơi Q gặp một người đàn ông khoảng 50 tuổi không biết tên, tuổi, địa chỉ và hỏi mua 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng ma tuý, loại Heroine thì được người đàn ông đưa 03 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. Q biết đây là ma tuý, loại Heroine nên đã cầm rồi cất trong túi áo ngực phía trước bên trái đi tìm nơi để sử dụng. Khi Q đang đi đến khu vực đường Q thuộc địa phận thôn D, xã N, huyện L thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang.
Về vật chứng vụ án: Số Heroine được niêm phong trong phong bì số 680/KTHS, mặt trước phong bì có ghi “Mẫu vật hoàn trả QT” do Cơ quan giám định hoàn trả sau giám định là chất cấm thuộc danh mục Nhà nước độc quyền quản lý, cấm tàng trữ lưu hành được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân.
Quá trình điều tra: Nguyễn Mạnh Q đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện.
Tại bản cáo trạng số 01/CT-VKS-LN ngày 28 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân đã truy tố Nguyễn Mạnh Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh Q từ 36 tháng tù đến 42 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, đồng thời đề nghị hướng xử lý vật chứng, án phí vụ án.
Bị cáo Nguyễn Mạnh Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân đã truy tố; bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa hay khiếu nại gì và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, khách quan.
Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng, người chứng kiến vắng mặt tại phiên toà nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.
Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang; lời khai của người làm chứng, người chứng kiến; vật chứng thu được; kết luận giám định về ma tuý và các tài liệu, chứng cứ khác lưu trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, đủ cơ sở kết luận: Hồi 15 giờ 35 phút ngày 03/9/2024 tại khu vực đường Q thuộc địa phận thôn D, xã N, huyện L; Nguyễn Mạnh Q đã có hành vi cất giữ trái phép 0,352 gam chất ma tuý, loại Heroine với mục đích để sử dụng thì bị Tổ công tác của Công an xã N, huyện L phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của Nguyễn Mạnh Q đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt đươc quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo là có căn cứ đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị Công an lập danh bản về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”; bị xử phạt hành chính 03 lần; 01 lần bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và có 01 tiền sự về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Mạnh Q đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, đồng thời thể hiện sự ăn năn hối cải trước pháp luật, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt:
- Về hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có thể cải tạo được bị cáo, đồng thời có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo yên tâm chấp hành án, sớm hoà nhập cộng đồng xã hội, đồng thời cũng thấy được tính nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội không nhằm mục đích thu lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Điều 35 và khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng: Đối với số Heroine được niêm phong trong phong bì số 680/KTHS, mặt trước phong bì ghi là “Mẫu vật hoàn trả QT” do Cơ quan giám định hoàn trả sau giám định là chất cấm do Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu và tiêu huỷ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Về các vấn đề khác: Đối với đối tượng đã bán ma tuý cho Nguyễn Mạnh Q như Q đã khai. Do chỉ có duy nhất lời khai của bị cáo và thông tin không đầy đủ, ngoài ra không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh, nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện L không có căn cứ điều tra, xác minh làm rõ để xử lý về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mạnh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Mạnh Q 39 (Ba mươi chín) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 03/9/2024.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu và tiêu huỷ: Số Heroine được niêm phong trong phong bì số 680/KTHS của Phòng K1 - Công an tỉnh H ghi “Mẫu vật hoàn trả QT”.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện L với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân ngày 02/01/2025).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:
Bị cáo Nguyễn Mạnh Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao (Vụ GĐKT I) - TAND Tỉnh Hà Nam; - VKSND Tỉnh Hà Nam; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Lý Nhân; - Cơ quan CSĐT, Cơ quan THA hình sự - Công an huyện Lý Nhân; - Chi cục THADS huyện Lý Nhân; - Bị cáo; đương sự; - Lưu: Hồ sơ + Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thành Nam |