vanban.org

Bản án 05/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Hồ Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Công Đ.

Về con chung: Giao cho chị Hồ Thị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Gia H, sinh ngày 01/3/2022 đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Công Đ vì chị Hồ Thị N chưa yêu cầu. Anh Nguyễn Công Đ được quyền thăm nom con chung,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Hồ Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Công Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HOÀNG MAI
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 21/02/2025
“Về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Tuấn.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bảy và bà Trần Thị Thanh Hương.

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai tham gia phiên tòa: Bà Đào Giang Lệ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại Hội trường Toà án nhân dân thị xã Hoàng Mai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 149/2024/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 10 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 05 tháng 02 năm 2025 về “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hồ Thị N, sinh năm 2001, vắng mặt.

Địa chỉ: K, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

Bị đơn: Anh Nguyễn Công Đ, sinh năm 1998, vắng mặt.

Địa chỉ: K, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản hoà giải nguyên đơn chị Hồ Thị N trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Công Đ kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 05/5/2022 tại UBND phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau được một năm hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh Đ thường hay chơi bời, uống rượu không chăm lo gia đình. Vợ chồng đã được người thân gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Chị và anh Đ đã sống ly thân từ tháng 6/2024 cho đến nay. Hiện nay, chị và anh Đ không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Công Đ.

Về con: Chị và anh Nguyễn Công Đ có 01 con chung là Nguyễn Gia H, sinh ngày 01/3/2022. Hiện nay, chị đang chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Ly hôn, chị xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành để ổn định chỗ ở, sinh hoạt và học tập cho con. Chị không yêu cầu anh Nguyễn Công Đ cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay chị làm lao động tự do, thu nhập hàng tháng 10 triệu đồng. Chị cam kết đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung: Chị và anh Đ đã thỏa thuận tự phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ: Chị và anh Đ không vay nợ ai, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản hoà giải bị đơn anh Nguyễn Công Đ trình bày:

Về hôn nhân: Anh đồng ý nội dung trình bày của chị N về điều kiện, thời gian và địa điểm đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, bình thường. Đến tháng 6/2024 chị N xin đi làm rồi không chịu quay về. Anh có động viên, khuyên bảo để vợ chồng quay về đoàn tụ nhiều lần nhưng chị N vẫn không đồng ý. Quá trình chung sống vợ chồng có cãi vã với nhau, không đánh đập. Gia đình bên nội hòa giải nhiều lần cho vợ chồng nhưng không thành. Hiện nay, chị N không còn tình cảm với anh, vẫn cương quyết yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì anh cũng nhất trí ly hôn.

Về con: Anh và chị Hồ Thị N có 01 con chung là Nguyễn Gia H, sinh ngày 01/3/2022. Hiện nay, chị N đang chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Ly hôn, anh xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành để ổn định chỗ ở, sinh hoạt và học tập cho con. Anh không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay, anh đang làm lái xe cho Công ty TNHH X tại khối I, phường Q thu nhập 13 triệu đồng. Anh đang ở cũng với bố, có nhà ở ổn định nên anh cam kết đủ điều kiện để chăm sóc, giáo dục con khôn lớn trưởng thành.

Về tài sản chung: Anh và chị N thỏa thuận tự phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ: Anh và chị N không vay nợ ai, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Biên bản xác minh ông Nguyễn Đình S, công chức tư pháp phường Q cung cấp: Chị Hồ Thị N và anh Nguyễn Công Đ đăng ký kết hôn ngày 05/05/2022 tại UBND phường Q, thị xã H trên cơ sở tự nguyện. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp nên xảy ra cãi vã nhau, anh Đ đi làm lái xe nên không có thời gian chăm sóc vợ con.

Về điều kiện nuôi con: Từ trước đến nay điều kiện nuôi con của chị Hồ Thị N và anh Nguyễn Công Đ vẫn đảm bảo, không có hiện tượng bạo hành con. Chị Hồ Thị N làm bán quán cà phê thu nhập bao nhiêu anh không biết. Anh Nguyễn Công Đ làm nghề lái xe thu nhập mỗi tháng 11-13 triệu đồng. Anh Đ hiện nay đang ở với bố đẻ có nhà của bố đẻ. Chị N ở đâu thì ông không biết. Nếu được nuôi con chung thì chị N và anh Đ đều đảm bảo điều kiện ăn ở, học hành cho con.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai phát biểu như sau: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân theo pháp luật tố tụng dân sự; Người tham gia tố tụng trong vụ án là nguyên đơn, bị đơn chấp hành pháp luật theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn được Toà án triệu tập hợp lệ 2 lần nhưng vẫn vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Về hôn nhân: Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị N. Đề nghị xử cho chị Hồ Thị N được ly hôn anh Nguyễn Công Đ.

Về con chung: Đề nghị giao cho chị Hồ Thị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Gia H, sinh ngày 01/3/2022 đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Đ vì chị N chưa yêu cầu. Anh Nguyễn Công Đ được quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cấm, cản trở. Về tài sản: Chị Hồ Thị N và anh Nguyễn Công Đ không yêu cầu giải quyết nên miễn xét. Về án phí: Chị Hồ Thị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Hồ Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn anh Nguyễn Công Đ là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Bị đơn đăng ký thường trú tại thị xã H, tỉnh Nghệ An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Hồ Thị N và anh Nguyễn Công Đ được UBND phường Q, thị xã H cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 05/05/2022 tuân thủ các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nên hợp pháp. Quá trình chung sống do vợ chồng sống không hạnh phúc, bất đồng quan điểm, tính cách không phù hợp. Từ khi mâu thuẫn cho đến nay gia đình hai bên tích cực khuyên bàn vợ chồng đoàn tụ nhưng không được. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh Đ đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị Hồ Thị N yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Công Đ là có cơ sở nên cần chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Vợ chồng chị N, anh Đ có 01 con chung là Nguyễn Gia H, sinh ngày 01/3/2022. Ly hôn chị N và anh Đ đều có nguyện vọng nuôi con chung. Tuy nhiên xét con chung là con gái lại đang dưới 03 tuổi nên cần chăm sóc giáo dục của người mẹ. Từ trước đến nay đều do chị N chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị N có nghề nghiệp thu nhập ổn định. Vì vậy, cần giao con chung cho chị N nuôi là phù hợp. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Đ vì chị N chưa yêu cầu. [4] Về tài sản: Chị Hồ Thị N và anh Nguyễn Công Đ không yêu cầu Toà án giải quyết nên miễn xét. [5] Về án phí: Chị Hồ Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. [6] Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên toà về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 56, 81, 82 và điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban T.

Xử:

Về hôn nhân: Chị Hồ Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Công Đ.

Về con chung: Giao cho chị Hồ Thị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Gia H, sinh ngày 01/3/2022 đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Công Đ vì chị Hồ Thị N chưa yêu cầu. Anh Nguyễn Công Đ được quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cấm, cản trở.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Chị Hồ Thị N và anh Nguyễn Công Đ không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về án phí: Chị Hồ Thị N phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu tiền số 0008587 ngày 08/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hoàng Mai.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ