vanban.org

Bản án 05/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Đinh Thị Diễm N.

Chị Đinh Thị Diễm N được ly hôn với anh Lê Văn K. Về con chung: Chị Đinh Thị Diễm N được nuôi dưỡng con chung Lê Thị Anh T sinh ngày: 14/11/2020. Ghi nhận chị Đinh Thị Diễm N không yêu cầu anh Lê Văn Ken cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đinh Thị Diễm Ngọc - Lê Văn Ken"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Đinh Thị Diễm N.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 11-7-2025
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Thu Trang

2. Bà Phạm Thị Lợi

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tuyết là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lanh – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 95/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2025/QĐXX-ST ngày 21 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 124/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Đinh Thị Diễm N, sinh ngày 06/02/1997 (Vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp Thới Lợi 2, xã T, huyện B, tỉnh T (Nay là ấp Thới Lợi 2, xã T, tỉnh V).

- Bị đơn: Lê Văn K, sinh ngày 09/01/1990 (Vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã B, huyện T, tỉnh B (Nay là ấp T, xã xã B, tỉnh V).

Địa chỉ cư trú hiện nay: Ấp Thới Lợi 2, xã T, huyện B, tỉnh T (Nay là ấp Thới Lợi 2, xã T, tỉnh V).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn đề ngày 25/02/2025, bản tự khai đề ngày 16/4/2025, nguyên đơn chị Đinh Thị Diễm N trình bày:

Chị và anh Lê Văn K cưới năm 2015, đăng ký kết hôn năm 2019 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh T (Nay là xã T, tỉnh V). Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc, đến tháng 12 năm 2024 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, không còn hợp nhau, hay cải vã và sống ly thân, mỗi người sống riêng, không hàn gắn tình cảm được cho đến nay. Quá trình chung sống, chị và anh K có với nhau 01 con chung tên Lê Thị Anh Tsinh ngày: 14/11/2020 chị đang nuôi dưỡng. Tài sản chung và nợ chung: Không có.

Chị Đinh Thị Diễm N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Được ly hôn với anh Lê Văn K.

- Về con chung: Ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

- Tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Đinh Thị Diễm N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 16/4/2025.

* Bị đơn anh Lê Văn K các lần Tòa án triệu tập hòa giải, xét xử đến lần thứ hai đều vắng mặt nên không có lời khai.

*Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên Tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Đối với Thẩm phán phân công giải quyết án xác định đúng quan hệ tranh chấp, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các nguyên tắc do pháp luật quy định. Đối với những người tham gia tố tụng thì nguyên đơn có chấp hành tốt theo Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn các lần hòa giải đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt là vi phạm nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đinh Thị Diễm N. Về con chung: Chị Đinh Thị Diễm N được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và ghi nhận chị Đinh Thị Diễm N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: Chị Đinh Thị Diễm N khai không có nên không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

Chị Đinh Thị Diễm N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 16/4/2025 (Bút lục số 27). Bị đơn anh Lê Văn K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, được Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để hòa giải, xét xử đến lần thứ 2 nhưng anh K đều vắng mặt. Anh K hiện nay vẫn đang sinh sống tại địa phương (Theo đơn xin xác nhận của Công an xã T ngày 28/02/2025, bút lục số 03). Căn cứ khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị N, anh K là phù hợp, đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Đinh Thị Diễm N và anh Lê Văn K cưới năm 2015, đăng ký kết hôn năm 2019 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh T (Nay là xã T, tỉnh V), phù hợp quy định của pháp luật nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc, đến tháng 12 năm 2024 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị N trình bày là do vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, không còn hợp nhau, hay cải vã và sống ly thân, mỗi người sống riêng, không hàn gắn tình cảm được cho đến nay. Chị N vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với anh K. Anh K không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu ly hôn của chị N. Điều đó chứng tỏ hôn nhân giữa chị N và anh K đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Xét thấy, yêu cầu ly hôn của chị N đối với anh K là có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung:

Chị Đinh Thị Diễm N khai, chị và anh K chung sống có với nhau 01 con chung tên Lê Thị Anh T sinh ngày: 14/11/2020, chị N đang chăm sóc và nuôi dưỡng. Ly hôn chị N có yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử xét thấy: Từ lúc chị N và anh K sống ly thân, con chung là cháu T, chị Nnuôi dưỡng đến nay. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị N được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, cháu T, phù hợp quy định pháp luật theo Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Ghi nhận sự tự nguyện của chị N nuôi dưỡng con chung không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung:

Chị Đinh Thị Diễm N khai không có nên Hội đồng xét xử không xét đến.

Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên Tòa về việc giải quyết vụ án hôn nhân, nuôi dưỡng con chung, tài sản chung và nợ chung là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, diễn biến tại phiên tòa và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Căn cứ vào khoản 04 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-HĐTP ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Đinh Thị Diễm N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228, Điều 233, 238, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Đinh Thị Diễm N.

2. Chị Đinh Thị Diễm N được ly hôn với anh Lê Văn K.

3. Về con chung: Chị Đinh Thị Diễm N được nuôi dưỡng con chung Lê Thị Anh T sinh ngày: 14/11/2020. Ghi nhận chị Đinh Thị Diễm N không yêu cầu anh Lê Văn Ken cấp dưỡng nuôi con chung.

Trong thời gian con chung Lê Thị Anh T của chị Đinh Thị Diễm N và anh Lê Văn K chưa thành niên (Chưa đủ 18 tuổi), chị Ngọc có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, anh K có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung. Người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đinh Thị Diễm N khai không có nên Hội đồng xét xử không xét đến.

5. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Chị Đinh Thị Diễm N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0008264 ngày 28 tháng 2 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre (Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 – Vĩnh Long, tỉnh V), chị N đã nộp đủ án phí.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ