CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
Nội)
Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết Thắng, Tổng giám đốc (Vắng mặt);
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Mạnh Hùng, chức vụ giám đốc Phòng giao dịch N theo văn bản ủy quyền số 7300/QĐ-NHCS ngày 19/9/2019 của Tổng giám đốc Ngân hàng chính sách xã hội, (Có mặt);
Địa chỉ: Tổ dân phố số 2, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Nay là thôn P, xã N, tỉnh Thái Nguyên).
+ Ông Hoàng Đình K, sinh năm 19xx, (Vắng mặt);
+ Bà Nông Thị B, sinh năm 19xx, (Vắng mặt);
Địa chỉ: Cùng trú tại thôn N, xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Nay là thôn N, xã X, tỉnh Thái Nguyên).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:
+ Ông Hoàng Văn T, sinh năm 19xx, (Vắng mặt);
+ Bà Hoàng Thị Đ, sinh năm 19xx, (Vắng mặt);
Người đại diện theo ủy quyền của bà Hoàng Thị Đ: Ông Hoàng Văn T, (Vắng mặt);
Địa chỉ: Cùng trú tại thôn N, xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Nay là thôn N, xã X, tỉnh Thái Nguyên).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Hoàng Thị N trình bày:
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Trước khi kết hôn, chị Hoàng Thị N và anh Hoàng Văn H được tự nguyện tìm hiểu nhau và được gia đình hai bên tổ chức cưới theo phong tục địa phương năm 2006 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Sau khi kết hôn thì hai vợ chồng sống tại nhà cha mẹ chồng. Sau đó hai vợ chồng ra sinh sống ở ngôi nhà gỗ 02 tầng (Sau đây viết là ngôi nhà 02 tầng) tọa lạc trên thửa đất mua của ông Lường Ngọc Q (Sau đây viết là thửa đất mua của ông Q) có địa chỉ tại thôn C, xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Nay là thôn H, xã X, tỉnh Thái Nguyên) để cho chị N thuận tiện cho việc bán thuốc Tây và cho con đi học. Từ năm 2018 đến nay vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nên anh H về sinh sống cùng nhà cha mẹ đẻ ở thôn N, còn chị N và con ở tại ngôi gỗ 02 tầng. Trong khoảng thời gian khoảng tháng 8/2024 đến nay, hai vợ chồng không còn quan tâm, hỏi han chăm sóc đến nhau nữa và anh H có hai, ba lần đến ngôi nhà 02 tầng rồi lại đi mà không rõ mục đích; từ tháng 5/2024 đến nay vợ chồng không còn sinh hoạt vợ chồng nữa. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị N đề nghị Tòa án giải quyết cho chị N được ly hôn với anh H.
1.2. Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng có 02 con chung tên là Hoàng Thanh T1, sinh ngày 20/7/20xx và con Hoàng Thế M sinh ngày 22/01/20xx. Các con chung khoẻ mạnh và phát triển bình thường, hiện nay con trình bày trên là của cha mẹ anh, không phải là tài sản chung của vợ chồng nên anh H không có tranh chấp với cha mẹ anh; anh H không nhất trí với yêu cầu chia tài sản chung trên của chị N. Nay chị N xin rút yêu cầu chia tài sản chung thì anh không có ý kiến gì.
Đối với với vườn mỡ được anh bán năm 2024 với giá 100.000.000đ, trong số tiền bán mỡ anh H đã chi: Đưa cho chị N 20.000.000đ; mua xe mô tô cho con T1 với số tiền 22.000.000đ; chi 10.000.000đ để làm đường khai thác gỗ. Số tiền còn lại chi cho chăm sóc mẹ đẻ bị ốm; chi cho sinh hoạt gia đình. Nay chị N xin rút lại yêu cầu chia thêm số tiền 30.000.000đ cho chị N thì anh H nhất trí.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Lead BKS 97B1-760.xx hiện nay chị đang sử dụng đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 0438xx ngày 13/6/2018 của Công an tỉnh Bắc Kạn cho chị N là tài sản do cha mẹ anh H cho chị N số tiền 25.000.000đ để mua xe, không liên quan đến anh nên anh H không có yêu cầu gì với chiếc xe mô tô của chị N đang sử dụng.
2.4. Về công nợ chung: Trong hôn nhân, anh H không có khoản nợ chung nào. Về số tiền 120.000.000đ chị N vay của Ngân hàng CSXH huyện N thì anh không được biết chị Nhi vay; không được chị N bàn bạc khi vay; anh không được ký trong bất cứ tài liệu nào liên quan đến việc vay tiền của chị N; anh H không được sử dụng số tiền do chị N đã vay của Ngân hàng; số tiền vay Ngân hàng không được chị N sử dụng vào việc trồng rừng (Như thuê người phát thực bì, đào hố, làm cỏ, trồng cây), làm nhà 02 tầng, nên anh H không nhất trí có nghĩa vụ liên đới đối với số dư nợ gốc hiện nay của chị N với ngân hàng CSXH; chị N phải tự mình có nghĩa vụ đối với toàn bộ dư nợ gốc của Ngân hàng. Nay chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nợ chung đối với Ngân hàng thì anh H nhất trí với ý kiến của chị N.
Tại phiên tòa, anh H xin rút lại yêu cầu chị N phải trả tiền công mỗi lần anh H đến Tòa án làm việc tương ứng với một ngày công là 400.000đ và tiền thuê người chăm sóc mẹ anh H với giá là 300.000đ/ngày.
2.5. Đối với tài sản riêng: Chị N có mua 01 thửa đất của vợ chồng ông Nông Văn T và bà Đàm Thị M liền kề với thửa đất mua của ông Q bằng tài sản riêng của chị N nên anh H không có tranh chấp với chị N về thửa đất này.
3. Tại văn bản cung cấp thông tin, quá trình giải quyết vụ án - Ngân hàng CSXH trình bày quan điểm: Trong hôn nhân, bà N và ông H là người ủy quyền có ký hợp đồng tín dụng với ngân hàng, cụ thể:
- Khoản vay thứ nhất: Mã món vay KUVV số 6600000719657xxx ngày 23/02/2021, số tiền cho vay là 50.000.000đ mục đích vay để trồng rừng mỡ theo chương trình hộ gia đình sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn; thời hạn trả nợ là ngày 11/02/2026;
- Khoản vay thứ hai: Mã món vay KUVV số 6600000728641xxx ngày 11/06/2024, số tiền cho vay là 50.000.000đ mục đích vay để trồng rừng mỡ, nuôi trâu theo chương trình hộ gia đình sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn; thời hạn trả nợ là ngày 11/6/2029;
- Khoản vay thứ ba có mã món vay KUVV số 6600000728648xxx ngày 11/6/2024; số tiền cho vay là 20.000.000đ mục đích vay để xây dựng công trình nước sạch, công trình vệ sinh theo chương trình nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn với số tiền là 20.000.000đ; thời hạn trả nợ là ngày 11/6/2029;
Đối với các khoản vay trên của bà N, ông H với Ngân hàng thì bà N là người được ủy quyền đứng tên vay và bên ủy quyền là ông H. Tính đến nay tổng dư nợ của ba món vay trên là 120.000.000đ, không nợ lãi.
Yêu cầu bà N, ông H tiếp tục phải chấp hành nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi phát sinh của các khoản vay trên tại Phòng giao dịch NHCSXH N. Trường hợp các đương sự thống nhất bà N có trách nhiệm trả toàn bộ dư nợ gốc và lãi suất phát sinh của các khoản vay nêu trên thì Ngân hàng nhất trí; Trường hợp các đương sự không thống nhất được người có nghĩa vụ phải trả mà buộc phải chia đôi mỗi người có trách nhiệm trả ½ số dư nợ gốc và lãi suất phát sinh cho Ngân hàng thì Ngân hàng đề nghị bà N, ông H phải trả nợ trước hạn xong trước khi ly hôn, nếu họ không trả trước đề nghị Tòa án không chấp thuận cho bà N và ông H được ly hôn. Sau khi họ trả xong thì chị N được quyền quyết định về số dư tài khoản và sử dụng tài khoản tiền gửi tại NHCSXH huyện N.
Nay tại phiên tòa, chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này thì Ngân hàng nhất trí.
4. Tại biên bản làm việc lập ngày 26/3/2025 ông Hoàng Văn C là trưởng thôn N cung cấp thông tin: Ông với chị N, anh H đều là anh em trong họ. Về tình trạng hôn nhân của vợ chồng họ theo ông C được biết là anh H mỗi khi uống rượu say thường hay chửi mắng chị N chứ không đánh chị N. Mỗi lần xảy ra sự việc như vậy thì chưa lần nào chị N đề nghị thôn, xã giải quyết. Từ khi chị N sống ly thân đến nay thì thỉnh thoảng chị N vẫn về thăm nhà. Còn việc vợ chồng họ còn quan tâm, thương yêu, chăm sóc lẫn nhau nữa hay không thì ông C không biết.
5. Tại biên bản xác minh ngày 03/6/2025, bà Lường Thị B là người hàng xóm có nhà ở gần nhất nhà ở của ông Hoàng Văn T, bà Hòa Thị Đ cung cấp thông tin: Trong thời gian vợ chồng N – H sinh sống tại nhà ông Hoàng Văn T, bà Hoàng Thị Đ thì vợ chồng họ không có mâu thuẫn gì trầm trọng.
6. Tại biên bản làm việc ngày 26/3/2025 ông Nông Văn Đ là Chủ tịch UBND xã Đ cung cấp thông tin: Do vợ chồng N – H không yêu cầu thôn xã giải quyết mâu thuẫn vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nên UBND xã không xác định được tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị Hoàng Thị N với anh Hoàng Văn H.
7. Tại biên bản làm việc ngày 26/3/2025, ông Lường Ngọc Q cung cấp thông tin: Vào khoảng năm 2008, 2009 có ông Hoàng Văn T và Hoàng Đình K đến gặp ông để thỏa thuận mua 01 thửa đất có diện tích 118m2 chưa được cấp GCNQSDĐ nhưng đã có ghi trên bản đồ của ông Q có địa chỉ thửa đất tại thôn C, xã Đ cho ông T với giá là 25.000.000đ. Tại buổi lập hợp đồng chuyển nhượng thì ông T trực tiếp trả trước 20.000.000đ; anh H là người trả số tiền 5.000.000đ còn lại cho ông. Khi ông chuyển nhượng thửa đất nói trên cho ông T cầu Tòa án giải quyết.
12. Tại đơn yêu cầu độc lập, biên bản lấy lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt – Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là ông Hoàng Văn T, bà Hoàng Thị Đ có ông Hoàng Văn T là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
- Đối với thửa đất mua của ông Q: Được mua bằng tiền của ông T, bà Đ; đối với thửa đất chị N mua của vợ chồng Nông Văn T và bà Đàm Thị M liền kề với thửa đất mua của ông Q bằng tài sản riêng của chị N nên ông T, bà Đ không có tranh chấp với chị N về thửa đất này. Ông T, bà Đ còn cho biết lý do ông, bà mua thửa đất của ông Q với dự định là cho vợ chồng H - N để làm nhà ở cho các cháu đi học cho thuận tiện; bà Đ trình bày: Chị N đòi chia giá trị nhà thì bà Đ không nhất trí vì chị N tự bỏ nhà, tự ly hôn chồng.
- Đối với ngôi nhà 02 tầng: Ngôi nhà này được vợ chồng ông làm từ vườn gỗ của gia đình ông và tiền của các chị em trong nhà hỗ trợ với mục đích làm nhà ở cho vợ chồng anh H, chị N sở hữu sử dụng. Nay vợ chồng họ ly hôn và do chị N đơn phương xin ly hôn thì ông T, bà Đ yêu cầu chị N trả lại ngôi nhà trên cho vợ chồng ông.
Đối với ngôi nhà 02 tầng và thửa đất của của ông Q, được ông T, bà Đ đều nhất trí là ngôi nhà 02 tầng có trị giá hiện tại là 100.000.000đ; thửa đất mua của ông Q có trị giá là 100.000.000đ; cùng nhất trí với đơn xin rút yêu cầu chia tài sản chung (Ngôi nhà 02 tầng và thửa đất mua của ông Q) của chị N và thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đối với số tiền 25.000.000đ cho chị N mua xe mô tô: Trong thời gian hôn nhân của chị N với anh H, ông T, bà Đ đã cho chị N số tiền 25.000.000đ để chị N mua xe mô tô hiện nay chị N đang sử dụng. Nay chị N ly hôn thì ông T, bà Đ yêu cầu chị N trả lại cho ông T, bà Đ số tiền 25.000.000đ cùng số tiền lãi của 25.000.000đ từ khi cho chị N đến nay là 3.000.000đ. Tổng số tiền ông T, bà Đ yêu cầu chị N phải trả là 28.000.000đ, và vợ chồng ông vẫn giữ nguyên cầu độc lập với yêu cầu này.
- Ngoài ra tại tờ trình về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải viết ngày 20/8/2025 ông T, bà Đ trình bày: Ngôi nhà thôn H, tỉnh Thái Nguyên đã được gia đình ông T chuẩn bị từ năm 2004 để mua nhà. Còn chị N giải quyết xong thì cái gì của chị lấy đi chuyển đi. Ông T, bà Đ chỉ có đất và cái nhà. Ông T ra hạn 15 ngày. Còn chiếc xe máy tay ga ông T, bà Đ tích góp tiền 25.000.000đ và lãi là 3.000.000đ cộng là 28.000.000đ trả cho Tòa ông T, bà Đ mới lấy nếu không trả Tòa án phải viết giấy cho ông T, bà Đ để ông T, bà Đ khác giải quyết.
13. Tại đơn trình bày nguyện vọng và biên bản lấy lời khai, cháu Hoàng Thanh T1 trình bày: Hiện nay cháu đã đủ 18 tuổi và đang là sinh viên dự bị đại học tại trường phổ thông vùng cao Việt Bắc. Cháu T1 chưa có tài sản riêng; không có tài sản chung trong khối tài sản chung của cha mẹ và vẫn sống phụ thuộc cha mẹ. Ngoài ra không còn có ý kiến gì khác
- Về tài sản chung:
+ Chấp nhận yêu cầu rút yêu cầu chia tài sản chung của chị Hoàng Thị N gồm yêu cầu chia cho chị N số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng); tài sản chung là ngôi nhà gỗ 02 gian gắn liền với thửa đất nhận chuyển nhượng của ông Lường Ngọc Q có địa chỉ nhà và đất tại thôn C, xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Nay là thôn H, xã X, tỉnh Thái Nguyên). Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu chia tài sản chung của chị Hoàng Thị N với anh Hoàng Văn H về yêu cầu chia tài sản chung nói trên. Đương sự có quyền khởi kiện lại về chia tài sản chung theo quy tại khoản 1 Điều 218 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 được sửa đổi sửa đổi bổ sung năm 2025.
+ Chấp nhận yêu cầu rút yêu cầu độc lập của người có quyền lợi có nghĩa vụ liên quan là ông Hoàng Văn T và bà Hoàng Thị Đ về việc rút yêu cầu đòi lại 01 ngôi nhà gỗ 02 tầng gắn liền với thửa đất nhận chuyển nhượng của ông Lường Ngọc Q có địa chỉ nhà và đất tại thôn C, xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Nay là thôn H, xã X, tỉnh Thái Nguyên). Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu đòi lại tài sản là 01 ngôi nhà gỗ 02 tầng gắn liền với thửa đất nhận chuyển nhượng của ông Lường Ngọc Q có địa chỉ nhà và đất tại thôn C, xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Nay là thôn H, xã X, tỉnh Thái Nguyên) của ông Hoàng Văn T và bà Hoàng Thị Đ. Đương sự có quyền khởi kiện lại về đòi lại tài sản theo quy tại khoản 1 Điều 218 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 được sửa đổi sửa đổi bổ sung năm 2025.
+ Chấp nhận yêu cầu rút yêu cầu trả nợ chung của chị Hoàng Thị N đối với Ngân hàng CSXH. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu trả nợ chung của chị Hoàng Thị N. Đương sự có quyền khởi kiện lại về trả nợ chung theo quy tại khoản 1 Điều 218 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 được sửa đổi sửa đổi bổ sung năm 2025.
+ Bác yêu cầu đòi lại tài sản là số tiền 28.000.000đ (Hai mươi tám triệu đồng), trong đó 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng) tiền nợ gốc và 3.000.000đ (Ba triệu đồng) tiền lãi của người có quyền lợi có nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là ông Hoàng Văn T và bà Hoàng Thị Đ.
+ Về án phí, lệ phí: Các đương sự phải chịu án phí, lệ phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Chị Hoàng Thị N có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn giải quyết vụ án “Ly hôn, nuôi con chung, chia tài sản, chung, trả nợ chung” với anh Hoàng Văn H có địa chỉ nơi ở hiện nay là thôn N, xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Nay là xã Xuân Dương, tỉnh Thái Nguyên) nên vụ án Ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện N (Nay là Tòa án khu vực 8 – Thái Nguyên) theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025. yêu cầu chị N phải chuyển ra khỏi nhà 02 tầng trong thời hạn 15 ngày, trong khi các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về ngôi nhà 02 tầng; bản án chưa có hiệu lực pháp luật và nguyên đơn có yêu cầu được lưu cư tại ngôi nhà 02 tầng theo quy định tại Điều 63 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 là 06 tháng. Việc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có yêu cầu giới hạn thời hạn ở tại ngôi nhà 02 tầng trong hạn 15 ngày sau khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử được xác định là vượt phạm vi yêu cầu độc lập nên không được chấp nhận để xem xét giải quyết theo quy định tại Điều 244 của BLTTDS 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025.
Về nghĩa vụ giao nộp chứng cứ: Thông báo kết quả phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đã được niêm yết theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không có văn bản trình bày quan điểm về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án, theo quy định tại khoản 1 Điều 6 của BLTTDS 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025 thì: “Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp”. Như vậy, việc bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình thì thuộc trách nhiệm của đương sự.
Tại phiên tòa hôm nay người có quyền lợi liên quan là ông Hoàng Đình K, bà Nông Thị B; ông Hoàng Văn T, bà Hoàng Thị Đ có đơn xin xét vắng mặt; những người tham gia tố tụng có mặt và đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vắng mặt họ. Hội đồng xét xử quyết định phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, 228 của BLTTDS 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2025.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự và thẩm tra, đánh giá khách quan tại phiên tòa, có đủ căn cứ để khẳng định chị Hoàng Thị N và anh Hoàng Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không thuộc trường hợp cấm kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn vào ngày 28/12/2006 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 0x, quyển số z xã Đ. Trong hôn nhân, vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn nhưng không khắc phục được. Từ năm 2009 đến nay chị N cùng con đã sống tại ngôi nhà 02 tầng, còn anh H sống tại nhà của cha mẹ đẻ thuộc thôn N. Trong khoảng thời gian từ tháng 8 năm 2024 đến nay vợ chồng không còn quan tâm, thương yêu, chăm sóc lẫn nhau nữa. Mặc dù vậy, Tòa án đã tiến hành hòa giải để chị N, anh H đoàn tụ nhưng anh H không tham gia các giai đoạn tố tụng, không có yêu cầu phản tố và chị N vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn. Trên cơ sở đó xét thấy: Quan hệ hôn nhân giữa chị Hoàng Thị N với anh Hoàng Văn H là quan hệ hôn nhân hợp pháp; trong hôn nhân vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên yêu dụng với ngân hàng, cụ thể:
- Khoản vay thứ nhất: Căn cứ vào Mã món vay KUVV số 6600000719657xxx ngày 23/02/2021, thì số tiền cho vay là 50.000.000đ mục đích vay để trồng rừng mỡ theo chương trình hộ gia đình sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn; thời hạn trả nợ là ngày 11/02/2026;
- Khoản vay thứ hai: Căn cứ vào Mã món vay KUVV số 6600000728641xxx ngày 11/06/2024, số tiền cho vay là 50.000.000đ mục đích vay để trồng rừng mỡ, nuôi trâu theo chương trình hộ gia đình sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn; thời hạn trả nợ là ngày 11/6/2029;
- Khoản vay thứ ba: Căn cứ vào Mã món vay KUVV số 6600000728648xxx ngày 11/6/2024; số tiền cho vay là 20.000.000đ mục đích vay để xây dựng công trình nước sạch, công trình vệ sinh theo chương trình nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn với số tiền là 20.000.000đ; thời hạn trả nợ là ngày 11/6/2029;
Đối với các khoản vay trên của bà N, ông H với Ngân hàng thì bà N là người được ủy quyền đứng tên vay và bên ủy quyền là ông H. Tính đến nay tổng dư nợ của ba món vay trên là 120.000.000đ, không nợ lãi.
Trong quá trình giải quyết khoản nợ chung: Anh H không thừa nhận dư nợ gốc với Ngân hàng CSXH là khoản nợ chung của vợ chồng, không thừa nhận chữ ký của anh H trong các tài liệu chứng cứ liên quan đến vay vốn ngân hàng nhưng anh H từ chối việc giám định chữ ký; chị N không cung cấp được các tài liệu chứng cứ chứng minh toàn bộ số tiền vay của Ngân hàng được sử dụng cho chi tiêu, sinh hoạt chung của gia đình.
Tuy nhiên, trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa, chị N rút lại yêu cầu Tòa án giải quyết khoản nợ chung và được Ngân hàng CSXH không có yêu cầu độc lập nhất trí; bị đơn nhất trí không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án cần chấp nhận yêu cầu rút yêu cầu trả nợ chung của nguyên đơn và đình chỉ giải quyết trả nợ chung của nguyên đơn.
Về yêu cầu đòi tiền chăm sóc mẹ và tiền công đi lại của anh H với chị N: Tại phiên tòa, anh H xin rút lại yêu cầu chị N phải trả tiền công mỗi lần anh H đến Tòa án làm việc tương ứng với một ngày công là 400.000đ và tiền thuê người chăm sóc mẹ anh H với giá là 300.000đ/ngày và được chị N nhất trí nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Đối với yêu cầu nguyên đơn trả số tiền 28.000.000đ trong đó có 25.000.000đ tiền mua xe máy và 3.000.000đ tiền lãi của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là ông Hoàng Văn T và bà Hoàng Thị Đ:
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là ông Hoàng Văn T và bà Hoàng Thị Đ cho rằng trong hôn nhân của vợ chồng N – H thì ông T, bà Đ đã cho chị N tiền để mua chiếc xe mô tô BKS 97B1-760.xx hiện nay chị N đang sử dụng. Nhưng do chị N đơn phương xin ly hôn nên ông T, bà Đ yêu cầu chị N phải trả lại cho ông bà số tiền đã cho là 25.000.000đ cùng số tiền 3.000.000đ là tiền lãi của số tiền 25.000.000đ nhưng không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của họ là có căn cứ và hợp pháp về