- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Trần Thị L và anh Ngô Văn T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị L được ly hôn với anh Ngô Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST Ngày: 17-7-2025 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Ngọc Duyên
2. Bà Trần Thu Trang
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thúy Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 7, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Huỳnh Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 7, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 135/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 90/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị L, sinh ngày 02 tháng 02 năm 1984 (có mặt);
Địa chỉ: ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang (Nay là ấp V, phường T, tỉnh An Giang).
2. Bị đơn: Anh Ngô Văn T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1985 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp C, xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang (Nay là ấp C, xã A, tỉnh An Giang).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 04 tháng 3 năm 2025, đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt ngày 12 tháng 6 năm 2025 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Trần Thị L trình bày và yêu cầu như sau:
Chị và anh Ngô Văn T tìm hiểu và chung sống với nhau vào năm 2005, đến ngày 23 tháng 4 năm 2008 xác lập hôn nhân và đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn. Chị và anh Ngô Văn T sống chung có được 02 người con chung tên: Ngô Thị Mỹ T1, sinh ngày 23 tháng 12 năm 2007 và Ngô Nhật T2, sinh ngày 10 tháng 02 năm 2011, từ khi anh chị ly thân đến nay các con chung sống chung với chị; về tài sản chung và nợ, chị và anh Ngô Văn T không có tài sản chung, không có nợ người khác, người khác không nợ anh chị. Quá trình chung sống chị và anh Ngô Văn T không hợp nhau, thường xuyên cự cãi, anh Ngô Văn T ghen tuông vô cớ, không tin tưởng chị, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, sống chung không còn hạnh phúc, chị và anh Ngô Văn T sống ly thân với nhau từ tháng 10 năm 2024 cho đến nay. Về quan hệ hôn nhân, chị yêu cầu được ly hôn với anh Ngô Văn T. Về quan hệ con chung, khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng 02 người con chung tên: Ngô Thị Mỹ T1, sinh ngày 23 tháng 12 năm 2007 và Ngô Nhật T2, sinh ngày 10 tháng 02 năm 2011 đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được theo nguyện vọng của các con, chị không yêu cầu anh Ngô Văn T cấp dưỡng nuôi con mặc dù đã được Tòa án giải thích về cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ, chị cam kết không yêu cầu giải quyết; chị yêu cầu xét xử vắng mặt, ngoài ra chị không yêu cầu gì khác.
* Tại các văn bản trình bày nguyện vọng ngày 19 tháng 5 năm 2025 của Ngô Thị Mỹ T1 và Ngô Nhật T2 như sau:
Ngô Thị Mỹ T1 và Ngô Nhật T2 là con của anh Ngô Văn T và chị Trần Thị L, từ khi cha mẹ không chung sống với nhau thì Ngô Thị Mỹ T1 và Ngô Nhật T2 sống chung với mẹ là chị Trần Thị L. Nếu cha mẹ của Ngô Thị Mỹ T1 và Ngô Nhật T2 ly hôn, Ngô Thị Mỹ T1 và Ngô Nhật T2 có nguyện vọng sống chung với mẹ là chị Trần Thị L, địa chỉ: ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang (Nay là ấp V, phường T, tỉnh An Giang). Ngô Thị Mỹ T1 và Ngô Nhật T2 cam kết lời trình bày của Ngô Thị Mỹ T1 và Ngô Nhật T2 là đúng sự thật và chịu trách nhiệm về trình bày của mình.
* Tại Biên bản xác minh ngày 07 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 7, tỉnh An Giang) về nguyên nhân mâu thuẫn và tình trạng hôn nhân:
Anh Ngô Văn T và chị Trần Thị L là vợ chồng hợp pháp, anh chị sống chung được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn thì biết được, ở địa phương không có đơn liên quan đến tranh chấp tài sản cũng như nợ liên quan đến vợ chồng của anh chị. Anh Ngô Văn T và chị Trần Thị L có 02 người con chung, hiện nay đang chung sống với chị Trần Thị L.
* Bị đơn anh Ngô Văn T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho anh Ngô Văn T biết để anh có ý kiến về việc chị Trần Thị L yêu cầu được ly hôn và nuôi con với anh nhưng anh Ngô Văn T không có ý kiến gì và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình nên Toà án tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
* Tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án gồm: 02 Căn cước công dân tên Trần Thị L (Bản sao) và Ngô Văn T (Bản phô tô); Giấy chứng nhận kết hôn anh Ngô Văn T và chị Trần Thị L số: 62 ngày 23 tháng 4 năm 2008 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang (Bản chính); Giấy khai sinh tên Ngô Nhật T2, sinh ngày 10 tháng 02 năm 2011 (Bản sao); Trích lục khai Ngô Thị Mỹ T1, sinh ngày 23 tháng 12 năm 2007 (Bản sao); Đơn xin xác nhận tình trạng cư trú của đương sự ngày 04/3/2025 của chị Trần Thị L (Bản chính); Biên bản xác minh ngày 07 tháng 4 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (Bản chính); 02 Văn bản trình bày nguyện vọng ngày 19 tháng 5 năm 2025 của Ngô Nhật T2 và Ngô Thị Mỹ T1 (Bản chính).
* Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị Trần Thị L gửi đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Ngô Văn T vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án thực hiện các trình tự thủ tục tố tụng đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo pháp luật luật tố tụng dân sự, gửi đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Ngô Văn T vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do đề nghị xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Xét đơn khởi kiện của chị Trần Thị L yêu cầu được ly hôn với anh Ngô Văn T và nuôi con là có căn cứ chấp nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Trần Thị L được ly hôn với anh Ngô Văn T. Về quan hệ con chung, khi anh chị ly hôn giao người con chung của anh chị tên Ngô Nhật T2 cho chị Trần Thị L tiếp tục nuôi dưỡng theo nguyện vọng của Ngô Nhật T2, còn người con chung của anh chị tên Ngô Thị Mỹ T1 nay đã thành niên đề nghị không xem xét. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Trần Thị L không yêu cầu đề nghị không xem xét. Về tài sản chung và nợ, chị Trần Thị L tự xác định không có, anh chị không yêu cầu giải quyết đề nghị miễn xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Trần Thị L yêu cầu được ly hôn với bị đơn anh Ngô Văn T và nuôi con. Bị đơn anh Ngô Văn T cư trú tại: ấp C, xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang (Nay là ấp C, xã A, tỉnh An Giang) nên xác định đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 7, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Ngô Văn T biết và ấn định thời gian để anh có ý kiến về việc chị Trần Thị L khởi kiện yêu cầu được ly hôn, tranh chấp nuôi con với anh Ngô Văn T nhưng anh không có ý kiến gì và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Toà án tổ chức và thông báo cho các bên đương sự để tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Ngô Văn T vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do. Như vậy, đây thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho chị Trần Thị L và anh Ngô Văn T thì chị Trần Thị L gửi đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh Ngô Văn T vẫn cố tình vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Trần Thị L và anh Ngô Văn T theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét về quan hệ hôn nhân, chị Trần Thị L và anh Ngô Văn T chung sống với nhau vào năm 2005, đến năm 2008 anh chị đi đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Ủy ban nhân dân xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang là một trong những nơi anh chị cư trú) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 62, quyển số 01/2008 ngày 23 tháng 4 năm 2008, anh chị đảm bảo các điều kiện kết hôn khác theo quy định của pháp luật là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận theo quy định tại Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 nay là Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét khởi kiện của chị Trần Thị L yêu cầu được ly hôn với anh Ngô Văn T, quá trình chung sống chị và anh Ngô Văn T không hợp nhau, thường xuyên cự cãi, anh Ngô Văn T ghen tuông vô cớ, không tin tưởng chị, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, sống chung không còn hạnh phúc, chị và anh Ngô Văn T sống ly thân với nhau từ tháng 10 năm 2024 cho đến nay, chị yêu cầu được ly hôn với anh Ngô Văn T, nhưng anh Ngô Văn T không có ý kiến yêu cầu gì, không quan tâm đến việc chị Trần Thị L yêu cầu được ly hôn với anh Ngô Văn T là vi phạm nghĩa vụ giữa vợ chồng thời gian dài, vợ chồng không chăm sóc, lo lắng lẫn nhau mà anh chị không có biện pháp hàn gắn để chung sống với nhau nên hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, trong quá trình giải quyết vụ án chị Trần Thị L cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh Ngô Văn T. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị Kiểm sát viên và yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị L, cho chị Trần Thị L được ly hôn với anh Ngô Văn T là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ con chung, chị Trần Thị L và anh Ngô Văn T có 02 người con chung tên: Ngô Thị Mỹ T1, sinh ngày 23 tháng 12 năm 2007 và Ngô Nhật T2, sinh ngày 10 tháng 02 năm 2011, sống chung với chị Trần Thị L từ khi anh chị ly thân đến nay. Khi ly hôn, chị Trần Thị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 người con chung; anh Ngô Văn T không có ý kiến yêu cầu gì khác, đồng thời các người con chung của anh chị từ khi anh chị ly thân đến nay chung sống với chị Trần Thị L, đã thích nghi với cuộc sống hiện tại, có nguyện vọng chung sống với chị Trần Thị L. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, yêu cầu của chị Trần Thị L và nguyện vọng của các con chung của anh chị, giao người con chung của anh chị tên: Ngô Nhật T2, sinh ngày 10 tháng 02 năm 2011 cho chị Trần Thị L được tiếp tục nuôi dưỡng đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được, giao người con chung của anh chị tên: Ngô Thị Mỹ T1, sinh ngày 23 tháng 12 năm 2007 cho chị Trần Thị L được tiếp tục nuôi dưỡng đến khi tự lao động sinh sống được theo nguyện vọng của các con anh chị là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ, điểm g khoản 1 Điều 6 của Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con, chị Trần Thị L không yêu cầu anh Ngô Văn T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung và nợ, chị Trần Thị L tự xác định, chị và anh Ngô Văn T không có tài sản chung, anh chị không có nợ người khác, người khác không có nợ anh chị và chị cam kết không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp chia tài sản chung và nợ thì được xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238, Điều 241, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 51, Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ, điểm g khoản 1 Điều 6 của Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTV QH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị L được ly hôn với anh Ngô Văn T.
2. Về quan hệ con chung: Giao giao người con chung của anh chị tên: Ngô Nhật T2, sinh ngày 10 tháng 02 năm 2011 cho chị Trần Thị L được tiếp tục nuôi dưỡng đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được và giao người con chung của anh chị tên: Ngô Thị Mỹ T1, sinh ngày 23 tháng 12 năm 2007 cho chị Trần Thị L được tiếp tục nuôi dưỡng đến khi tự lao động sinh sống được theo nguyện vọng của các con anh chị và hiện nay đang chung sống với chị Trần Thị L.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị L không yêu cầu anh Ngô Văn T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
4. Về tài sản chung và nợ: Chị Trần Thị L tự xác định, chị và anh Ngô Văn T không có tài sản chung, anh chị không có nợ người khác, người khác không có nợ anh chị và chị cam kết không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp chia tài sản chung và nợ thì được xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.
5. Về án phí: Buộc chị Trần Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số: 24 (Ký hiệu: BLTU/25) ngày 04 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (Nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 7, tỉnh An Giang). Chị Trần Thị L đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND Khu vực 7, tỉnh An Giang; - Phòng THADS Khu vực 7, tỉnh An Giang; - Các đương sự; - UBND xã An Biên, tỉnh An Giang; - Lưu: HSVA,VP (Kiều). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Thảo |