- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T/C HNGĐ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị Ú về việc “Ly hôn” đối với anh Trịnh Tứ Q.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2025/HNGĐ - ST Ngày: 15 - 8 - 2025 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trịnh Thị Cúc;
Bà Nguyễn Thị Phương Mai;
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Danh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 37/2025/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2025/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Ú - sinh năm: 1984; Có đơn xét xử vắng mặt
Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường Q, thành phố S (Nay là tổ dân phố T, phường S, tỉnh Thanh Hóa).
Bị đơn: Anh Trịnh Tứ Q - sinh năm: 1976; Vắng mặt
Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường Q, thành phố S (Nay là tổ dân phố T, phường S, tỉnh Thanh Hóa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị Ú trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Ú và anh Q kết hôn với nhau năm 2000 trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình đồng ý tổ chức cưới theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, thị xã S, tỉnh Thanh Hóa vào năm 2010. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian, thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không còn hợp nhau dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải vả. Từ năm 2021 vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Quá trình sống ly thân vợ chồng không còn quan tâm nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyện vọng của chị Ú được giải quyết ly hôn với anh Q.
Về con chung: Chị Ú và anh Q có 03 con chung là Trịnh Thị B - sinh ngày 20/8/1999, Trịnh Thị N – sinh ngày 18/4/2001 và Trịnh Tứ C – sinh ngày 26/11/2004. Nay các con chung đã thành niên và phát triển bình thường nên chị Ú không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản, công nợ chung: Chị Ú không yêu cầu xem xét, giải quyết.
Đối với bị đơn anh Trịnh Tứ Q: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi xét xử, đã tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Q nhưng anh không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Thanh Hóa tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng, việc tuân theo pháp luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hướng giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Trần Thị Ú, cho chị Ú được ly hôn với anh Trịnh Tứ Q:
Về con chung: Các con chung đã thành niên và phát triển bình thường, các đương sự không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
Về tài sản, công nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
Về án phí: Buộc nguyên đơn chị Trần Thị Ú phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa. Trên cơ sở quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc chấp hành pháp luật tố tụng và đề nghị hướng giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân khu vực 4, tỉnh Thanh Hóa có đủ cơ sở nhận định.
. Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự về “Ly hôn”. Do bị đơn anh Trịnh Tứ Q có nơi cư trú tại phường Q, thành phố S (Nay là phường S, tỉnh Thanh Hóa) nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 4 là đúng quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 Nghị quyết thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; điểm b khoản 1 Điều 5, khoản 1 Điều 6 Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của Tòa án nhân dân.
Tại phiên tòa, bị đơn anh Trịnh Tứ Q đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng anh Q vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng và trở ngại khách quan; nguyên đơn chị Trần Thị Ú có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Q và chị Ú.
Xét về quan hệ hôn nhân: Chị Ú và anh Q đã thực hiện lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương, việc kết hôn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, cả chị và anh không vi phạm các quy định về độ tuổi và các điều kiện cấm kết hôn theo luật hôn nhân và gia đình. Như vậy, hôn nhân của anh, chị được công nhận là hợp pháp.
. Xét yêu cầu xin ly hôn: Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian đầu, sau này phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh chị không còn hợp nhau về tính tình và quan điểm sống, không có tiếng nói chung, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải vả. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án triệu tập nhiều lần để giải quyết nhưng anh Q vẫn vắng mặt không lý do, điều đó thể hiện anh Q không mong muốn vợ chồng hòa giải những bất đồng để quay về đoàn tụ, không tha thiết với cuộc sống hôn nhân. Như vậy, mâu thuẫn cuộc sống hôn nhân của anh chị đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay nguyện vọng xin ly hôn của chị Ú là có căn cứ chấp nhận. Hội đồng xét xử chấp nhận với ý kiến của Kiểm sát viên, cho chị Trần Thị Ú được ly hôn anh Trịnh Tứ Q là phù hợp với Điều 51; Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
. Về con chung: Chị Ú và anh Q có 03 con chung là Trịnh Thị B - sinh ngày 20/8/1999, Trịnh Thị N – sinh ngày 18/4/2001 và Trịnh Tứ C – sinh ngày 26/11/2004. Nay các con chung đã thành niên và phát triển bình thường. Các đương sự không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên miễn xét.
.Về tài sản, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên miễn xét.
. Về án phí: Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm chị Trần Thị Ú phải chịu, theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
Căn cứ vào Điều 51; Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị Ú về việc “Ly hôn” đối với anh Trịnh Tứ Q.
Xử:
Về hôn nhân: Chị Trần Thị Ú được ly hôn với anh Trịnh Tứ Q;
Về con chung: Không xem xét
Về tài sản, công nợ chung: Không xem xét
Về án phí: Chị Trần Thị Ú phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai số: 0001425 ngày 16/5/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa (Nay là Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa). Chị Ú đã nộp đủ án phí.
Án xử công khai, chị Trần Thị Ú và anh Trịnh Tứ Q được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND khu vực 4 – Thanh Hóa; - UBND phường Sầm Sơn; - THADS tỉnh Thanh Hóa; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Văn Hùng |