vanban.org

Bản án 05/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phùn Thị H.

Cho chị Phùn Thị H được ly hôn anh Dín Văn H1. Về con chung: giao cho anh Dín Văn H1 được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Dín Hà A, sinh ngày 07/6/2015 đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng có quyền thăm nom, …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phùn Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN YÊN
TỈNH QUẢNG NINH
——————————
Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 04 - 4 - 2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN YÊN

TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Duy Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Thu và ông Nguyễn Quang Chỉnh.

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Quỳnh Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Đặng Quang Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiên Yên, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 34/2024/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2024 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 và Quyết định Hoãn phiên tòa, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Phùn Thị H - có mặt. Nơi cư trú: thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Quảng Ninh.

- Bị đơn: anh Dín Văn H1 - vắng mặt. Nơi cư trú: thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Quảng Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và lời khai của nguyên đơn chị Phùn Thị H trình bày: chị H đăng ký kết hôn với anh Dín Văn H1 vào năm 2015 tại UBND xã P, huyện T, tỉnh Quảng Ninh, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Trong quá trình chung sống hạnh phúc được một thời gian đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, anh H1 mỗi lần uống rượu về là lại gây sự xúc phạm thậm chí còn dùng bạo lực với vợ, từ tháng 10/2023 vợ chồng đã sống ly thân không ai quan tâm đến ai nữa. Nay chị H thấy không còn tình cảm với anh H1 nên yêu cầu được ly hôn anh H1.

Về con chung: vợ chồng có 01 con chung là cháu Dín H2 An sinh ngày 07/6/2015, nếu ly hôn chị H đề nghị để anh H1 nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung: chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn anh Dín Văn H1 có lời khai trình bày: về điều kiện hoàn cảnh kết hôn như chị H trình bày là đúng. Vợ chồng cũng có mâu thuẫn và cãi chửi nhau trong cuộc sống, nguyên nhân do anh H1 có ghen tuông. Nay chị H xin ly hôn nhưng anh H1 thấy vẫn còn tình cảm vợ chồng và vì con chung còn nhỏ nên anh H1 không đồng ý ly hôn.

Về con chung: anh H1 và chị H có 01 con chung như chị H đã trình bày, nếu ly hôn anh H1 đề nghị được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng.

Về tài sản chung: anh H1 không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà có quan điểm: về tố tụng đã đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung xét thấy chị H và anh H1 không thể tiếp tục chung sống, hơn nữa hiện nay 02 vợ chồng đang sống ly thân không hề có sự quan tâm chăm sóc nhau nên cho chị H và anh H1 được ly hôn. Con chung các đương sự đã thống nhất được nên giao anh H1 nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

[1] Về tố tụng: vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; Anh H1 vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ 02 lần, nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh H1 theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về tình cảm: trong quá trình giải quyết vụ án chị H và anh H1 đều xác định vợ chồng có xảy mâu thuẫn và không thể nói chuyện hòa giải được với nhau và vợ chồng đã ly thân từ cuối năm 2023 đến nay không còn quan tâm đến nhau. Mặc dù anh H1 mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để cùng nhau nuôi dạy con chung nhưng anh H1 không có biện pháp gì để cải thiện mối quan hệ vợ chồng, vợ chồng vẫn sống ly thân không có sự quan tâm chăm sóc nhau nên thấy rằng thực tế mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh H1 đã ở mức độ trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho chị H và anh H1 được ly hôn là phù hợp.

[3] Về con chung: chị H và anh H1 đã thống nhất được với nhau, cháu A cũng có nguyện vọng ở với bố, nên giao cho anh H1 nuôi dưỡng cháu Dín Hà A chị H không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[4] Về tài sản chung: chị H và anh H1 không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[5] Về án phí: chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: khoản 1 Điều 28, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phùn Thị H.

Cho chị Phùn Thị H được ly hôn anh Dín Văn H1.

Về con chung: giao cho anh Dín Văn H1 được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Dín Hà A, sinh ngày 07/6/2015 đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

Căn cứ: khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về án phí.

Buộc chị Phùn Thị H phải nộp 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí mà chị H đã nộp theo biên lai số 0004380 ngày 30/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiên Yên.

Căn cứ Điều 271, 273 – Bộ luật tố tụng dân sự. Báo cho chị H biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với anh H1 vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ