- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị L và anh D"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L, cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Dương Mi D.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12-ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST Ngày: 17-7-2025 V/v ly hôn,tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Tấn Dũng.
2. Ông Nguyễn Tuấn Lam.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 12 - Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Trần Thái Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 12 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 115/2025/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025, về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2025/QĐXX-ST ngày 13 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh ngày 21 tháng 11 năm 1996; Nơi cư trú: Ấp X, xã TP1, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp (nay là Ấp X, xã TP, tỉnh Đồng Tháp).
2. Bị đơn: Anh Dương Mi D, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1987; Nơi cư trú: Ấp X, xã TP1, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp (nay là Ấp X, xã TP, tỉnh Đồng Tháp).
(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 21 tháng 4 năm 2025 và bản tự khai đề ngày 13 tháng 6 năm 2025, chị Nguyễn Thị L trình bày: Vào năm 2016, chị có quen biết với anh Dương Mi D, qua thời gian tìm hiểu hai bên tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới cho chị và anh Dương Mi D trong năm 2017, sau khi cưới xong hai vợ chồng chị cùng nhau về sống chung nhà với gia đình của anh D. Chị và anh D có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TP1, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã TP, tỉnh Đồng Tháp) vào ngày 08 tháng 8 năm 2017. Thời gian đầu hai vợ chồng sống chung với nhau rất hạnh phúc, đến tháng 3 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn về chuyện tình cảm gia đình, vợ chồng không có tiếng nói chung, sống chung không còn hạnh phúc. Chị và anh Dương Mi D ly thân nhau từ tháng 02 năm 2022 cho đến nay, sau khi ly thân với anh D thì chị đi làm tại tỉnh Bình Dương cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, không hàn gắn tình cảm được nữa, nên chị yêu cầu được ly hôn với Dương Mi D. Về con chung: Chị đồng ý giao con chung Dương Thị Yến N, sinh ngày 11 tháng 7 năm 2019 cho anh Dương Mi D tiếp tục nuôi dưỡng, chị đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung trưởng thành. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Đối với anh Dương Mi D đã được Toà án triệu tập để hòa giải và xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh từ chối không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và xét xử.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Dương Mi D; về nuôi con chung: Giao con chung Dương Thị Yến N, sinh ngày 11 tháng 7 năm 2019 cho anh Dương Mi D tiếp tục nuôi dưỡng, chị Nguyễn Thị L cấp dưỡng nuôi con chung 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung trưởng thành; về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị L trình bày không có, còn anh Dương Mi D không có văn bản ghi ý kiến, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đây là vụ kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Dương Mi D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị L và anh Dương Mi D là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn và hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị L đối với anh Dương Mi D, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo trình bày của chị L thì cuộc sống của chị và anh Phú không còn hạnh phúc từ tháng 3 năm 2021 do phát sinh mâu thuẫn về chuyện tình cảm gia đình, vợ chồng không có tiếng nói chung, sống chung không còn hạnh phúc, cả hai đã không còn sống chung từ tháng 02 năm 2022 cho đến nay. Từ đó, có thể nhận thấy rằng mối quan hệ vợ chồng của chị L và anh D hoàn toàn không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Như vậy, xét thấy yêu cầu ly hôn của chị L là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, nên chấp nhận cho chị Nguyễn Thị L ly hôn với anh Dương Mi D.
Về việc nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị L đồng ý giao con chung Dương Thị Yến N, sinh ngày 11 tháng 7 năm 2019 cho anh Dương Mi D tiếp tục nuôi dưỡng, chị đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung trưởng thành, Hội đồng xét xử xét thấy từ khi chị L và anh D không còn sống chung và cho đến hiện tại thì con chung đều do anh D trực tiếp nuôi dưỡng, vì vậy để đảm bảo cuộc sống ổn định cho con chung, Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh D được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Về việc cấp dưỡng, xét thấy việc chị L tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung trưởng thành, đây là sự tự nguyện của chị L, không trái với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự nguyện này và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị L cho rằng không có, nên không yêu cầu giải quyết, còn anh Dương Mi D không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự, điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 110, 116 và 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L, cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Dương Mi D.
2. Về nuôi con chung:
2.1. Anh Dương Mi D được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Dương Thị Yến N, sinh ngày 11 tháng 7 năm 2019.
2.2. Chị Nguyễn Thị L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung Dương Thị Yến N với mức cấp dưỡng 1.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 8 năm 2025 đến khi cháu Dương Thị Yến N đủ 18 tuổi, tự lao động sinh sống được.
2.3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị L chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0014799 ngày 29 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự, chị L còn phải nộp tiếp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND khu vực 12-Đồng Tháp; - UBND xã TP, tỉnh Đồng Tháp; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lương Bằng |