- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hải- Đào Hoàng Giang"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2025/HNGĐ - ST Ngày 21 tháng 01 năm 2025 “V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Trung Thành
2. Bà Trần Thị Kim Khuyên
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Quốc Khánh- Thư ký Toà án nhân dân huyện Lập Thạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thị Thúy Nga- Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 203/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2024, về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1996; trú tại: Thôn N, xã N, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, có mặt.
- Bị đơn: Anh Đào Hoàng G, sinh năm 1986; trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Chị kết hôn với anh G ngày 09/8/2019, trước khi cưới có được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận hạnh phúc, đến giữa năm 2024 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, không hiểu nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày dẫn đến thường xuyên cãi nhau. Nhất là đầu năm 2024 khi chị mang thai con thứ hai rồi bị sảy thai, hai vợ chồng càng mâu thuẫn trầm trọng. Chị và anh G, cũng như gia đình hai bên đã cố gắng ngồi lại với nhau để tháo gỡ những khúc mắc trong tình cảm vợ chồng chị nhưng không có kết quả. Chị và anh G đã ly thân nhau khoảng giữa năm 2024 đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn đã ở mức trầm trọng nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh G. Hiện nay chị không có thai.
Về con chung: Chị và anh G có 01 con chung: Cháu Đào Thị Hải Y, sinh ngày 06/3/2023, hiện cháu Y đang ở với anh G. Ly hôn chị đề nghị được nuôi dưỡng cháu Y. Yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đ/1 tháng đến khi cháu Y đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, công nợ chung, đất nông nghiệp, công sức lao động: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Đào Hoàng G trình bày: Anh thừa nhận chị H trình bày về điều kiện kết hôn, thời gian kết hôn, quá trình chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là đúng. Nay chị H có đơn xin ly hôn anh vẫn muốn vợ chồng về đoàn tụ để cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Trường hợp chị G nhất quyết ly hôn thì anh cũng phải chịu.
- Về con chung: Anh và chị H có 01 con chung là cháu Đào Thị Hải Y. Hiện cháu Y đang ở với anh. Nếu ly hôn anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Y, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản, công nợ, đất nông nghiệp, công sức: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch phát biểu quan điểm như sau:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định; người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 107; Điều 110; Điều 116; Điều 117; Điều 119 Luật Hôn nhân gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 31/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H. Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Đào Hoàng G; về con chung: Giao cho chị H được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Đào Thị Hải Y, sinh ngày 06/3/2023. Anh G phải cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đ/1 tháng đến khi cháu Y đủ 18 tuổi.
Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng:
- Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu được ly hôn bị đơn anh Đào Hoàng G, do vậy đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, nên Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về tình cảm: Chị Nguyễn Thị H và anh Đào Hoàng G đăng ký kết hôn ngày 09/8/2019, tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Lập Thạch. Trước khi kết hôn có được tự do tìm hiểu vì vậy quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh G là tự nguyện, hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Xem xét hôn nhân giữa chị H và anh G thấy rằng cuộc sống chung vợ chồng giữa chị H và anh G có rất nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân như chị H trình bày do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong cuộc sống hàng ngày, thường xuyên cãi vã làm cho cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Chị H và anh G sống ly thân từ giữa năm 2024 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án anh G cũng thừa nhận về mâu thuẫn vợ chồng như chị H trình bày là đúng, anh G không đồng ý ly hôn nhưng không có động thái hàn gắn để vợ chồng về đoàn tụ. Tòa án tiến hành xác minh tại địa phương nơi anh G có hộ khẩu cho biết: Chính quyền địa phương không nắm được việc mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Hvà anh G. Việc chị H xin ly hôn anh G và các mối quan hệ khác trong vụ án, chính quyền địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Như vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh G đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị H xin ly hôn là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, nên được chấp nhận.
- Về nuôi con chung: Chị H và anh G có 01 con chung là cháu Đào Thị Hải Y, sinh ngày 06/3/2023. Hiện cháu Y đang ở với anh G. Ly hôn cả chị H và anh G đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Y. Xét thấy: Hiện tại, cả chị H và anh G đều làm lao động tự do có thu nhập và đều có chỗ ở ổn định. Tuy nhiên hiện nay cháu Y chưa đủ 36 tháng tuổi, theo quy định tại Điều 81, 82, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì việc nuôi con sau khi ly hôn là trách nhiệm, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên và “con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi”. Do đó để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt cho cháu Y, cần giao cháu Y cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, chị H yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đ/1 tháng cho đến khi cháu Y đủ 18 tuổi. Anh G không ý kiến gì đối với yêu cầu của chị H, chỉ yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Y. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi cho cháu Y cần buộc anh G phải cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đ/1 tháng đến khi cháu Y đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ ngày 01/02/2025.
- Về tài sản, công nợ, công sức lao động, đất nông nghiệp: Chị H và anh G không đề nghị giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch phù hợp tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
. Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 57; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 107; Điều 110; Điều 116; Điều 117 Luật Hôn nhân gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 31/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.
1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Đào Hoàng G.
2. Về nuôi con chung: Giao cho chị H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đào Thị Hải Y, sinh ngày 06/3/2023, hiện cháu Y đang ở với anh G. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
Anh G có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đ/1 tháng đến khi cháu Y đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ ngày 01/02/2025.
Kể từ ngày chị H có đơn yêu cầu thi hành án mà anh G chưa thanh toán tiền cấp dưỡng nuôi con chung thì hàng tháng anh G còn phải chịu lãi suất của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
3. Về tài sản, công nợ, công sức lao động, đất nông nghiệp: Không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000579 ngày 14/11/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lập Thạch. Chị H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Anh G phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
5. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án đương sự có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Lập Thạch; - Chi cục THADS huyện Lập Thạch. - UBND xã Đ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đã ký Hoàng Thị Quỳnh |