- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự đủ; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST Ngày: 15/01/2025 V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Bà Trần Thị Sang
2. Bà Thi Thị Thanh Trúc
Thư ký phiên tòa: Châu Thị Phượng Liên - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Nguyễn Hoàng Phúc Đức – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 01 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án thụ lý số: 76/2024/TLST- HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐST - HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2024 và giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Văn Thị Nh, sinh năm 1979 (có mặt)
Địa chỉ: ấp Phú Thọ, xã Thanh Mỹ, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh
2. Bị đơn: Trần Quốc Tr, sinh năm 1982 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Phú Thọ, xã Thanh Mỹ, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của chị Văn Thị Nh như sau:
Chị Nh và anh Tr chung sống năm 2002, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thanh Mỹ vào năm 2003. Thời gian chung sống có 2 con chung Trần Thị Thùy M, sinh năm 2009; Trần Thị Al Al, sinh năm 2003. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do anh Tr cờ bạc, không lo cho gia đình, không quan tâm vợ con. Từ những lý do đó mà vợ chồng phát sinh mâu thuẫn cự cãi nhiều hơn. Mẹ chồng và chồng luôn tỏ thái độ coi thường, không tôn trọng cha mẹ chị. Giữa chị Nh và anh Tr đã ly thân hơn một năm nay. Nay chị Nh xác định tình cảm vợ chồng không còn thương anh Tr nữa nên yêu cầu Tòa giải quyết như sau:
- Về hôn nhân: Chị Nh yêu cầu được ly hôn với anh Tr
- Về con chung: Đồng ý giao con chung Trần Thị Thùy M, sinh năm 2009 cho anh Tr nuôi dưỡng. Chị Nh không cấp dưỡng nuôi con. Trần Thị Al Al, sinh năm 2003 đã trưởng thành không đặt ra giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Theo lời khai của anh Trần Quốc Tr như sau: Anh Tr thống nhất với chị Nh về thời điểm kết hôn, thời gian chung sống, con chung, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn. Anh Tr xác định tình cảm vợ chồng còn thương chị Nh nên xin đoàn tụ. Nếu Tòa xử cho chúng tôi ly hôn thì anh Tr đồng ý nuôi con không yêu cầu chị Nh cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Cháu Trần Thị Thùy M có tự khai như sau: Không có ý kiến việc ly hôn của cha mẹ nhưng nếu cha mẹ ly hôn thì con có nguyện vọng sống với cha.
Tại phiên tòa hôm nay: Chị Nh vẫn giữ quan điểm xin ly hôn với anh Tr. Phía anh Tr Tòa án đã triệu tập xét xử nhiều lần nhưng vắng mặt không rỏ lý do.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên đã nhận định:
- Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Những vấn đề khác Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hôn nhân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với các đương sự từ khi thụ lý cũng như tại phiên tòa hôm nay bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu của chị Nh cho chị được ly hôn với anh Tr. Về con chung: Giao con chung Trần Thị Thùy M cho anh Tr trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Tr không yêu cầu chị Nh cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí buộc đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh Tr đã được triệu tập xét xử hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không rõ lí do. Căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự đủ căn cứ để xét xử vắng mặt anh Tr.
[2] Về hôn nhân: Chị Nh và anh Tr chung sống với nhau vào năm 2002, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thanh Mỹ vào năm 2003 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống anh Tr không lo làm ăn mà chỉ ham chơi cờ bạc, tỏ thái độ xem thường không tôn trọng cha mẹ chị Nh, vợ chồng không có tiếng nói chung nên chị Nh đã ly thân anh Tr hơn một năm nay. Thời gian ly thân không ai tới lui hỏi thăm, quan tâm chăm sóc cho nhau. Chị Nh vẫn giữ quan điểm cương quyết ly hôn. Cho thấy mục đích hôn nhân không đạt được chung sống cũng không hạnh phúc nên Hội đồng xử án chấp nhận yêu cầu của chị Nh cho chị được ly hôn với anh Tr.
[3] Về con chung: Từ khi chị Nh và anh Tr ly thân cháu M sống với anh Tr. Cháu M cũng có tự khai có nếu anh Tr và anh Nh ly hôn thì cháu có nguyện vọng sống với anh Tr. Anh Tr cũng có yêu cầu nuôi con nên Hội đồng xử án chấp nhận giao cháu M cho anh Tr trực tiếp nuôi dưỡng cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu M.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Tr không yêu cầu chị Nh cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
[6] Quan điểm của Vị đại diện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28; 35; 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 56; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình
Căn cứ nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nh. Cho chị Văn Thị Nh được ly hôn với anh Trần Quốc Tr.
Về con chung: Giao con chung Trần Thị Thùy M, sinh năm 2009 cho anh Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Nh được quyền tới lui, chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Tr không yêu cầu chị Nh cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét
Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Chị Nh nộp 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm, số tiền này được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0009506 ngày 18/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành; Chị Nh không phải nộp nữa.
- Án xử công khai, có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện Châu Thành; - THADS huyện Châu Thành; - Các đương sự; - UBND xã - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thu Hằng |