- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay vốn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C1.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PĂH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH GIA LAI ------------ Bản án số: 05/2025/DS-ST Ngày: 14/5/2025 V/v:“Tranh chấp hợp đồng vay vốn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PĂH, TỈNH GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hòa
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Bình.
2. Bà Phạm Thị Thoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thuận - Thư ký TAND huyện Chư Păh, Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Păh, Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Diệp - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2025, tại Toà án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 34/2024/TLST-DS, ngày 09 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay vốn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXXST - DS ngày 31 tháng 3 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 34/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng C1.
Địa chỉ: Tòa nhà C, bán đảo L, phường H, quận H, TP ..
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Hữu P – Phó Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C1, tỉnh Gia Lai (theo giấy ủy quyền số: 96/NHCS-UQ ngày 01/10/2021). Địa chỉ: Số A H, thị trấn P, huyện C, Gia Lai. Có mặt
2. Bị đơn: Ông Lê Văn C, sinh năm 1955. Địa chỉ: Thôn C, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị H, sinh năm 1961. Địa chỉ: Thôn C, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng C1 (gọi tắt là Ngân hàng) ông Phạm Hữu P trình bày: Căn cứ danh sách hộ gia đình đề nghị vay vốn Chương trình Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn ngày 20/02/2019 của Ủy ban nhân dân xã I phê duyệt, Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C1 đã giải ngân cho ông Lê Văn C (người đại diện hộ gia đình) số tiền 20.000.000 đồng, khế ước số 6600000714453266, lãi suất 9%/năm, ngày vay 26/02/2019 đến hạn ngày 26/02/2024.
Ngân hàng cho vay tín chấp thông qua Ủy ban nhân dân xã I và Hội cựu chiến binh là đơn vị nhận ủy thác.
Khi đến hạn món vay trên, hộ vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, nên ngày 10/3/2024 đã chuyển nợ quá hạn. Món vay trên đã được Ủy ban nhân dân xã I, Hội cựu chiến binh xã, Tổ trưởng tổ tiết kiệm và vay vốn, cán bộ ngân hàng Đ trả nợ nhiều lần nhưng ông C không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Từ ngày giải ngân đến ngày 10/01/2024, ông C mới thực hiện đóng tiền lãi với tổng số tiền là 6.672.335 đồng, còn tiền gốc chưa trả từ ngày vay.
Do đó, để thu hồi tài sản cho Nhà nước, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Lê Văn C và bà Lê Thị H phải thanh toán nợ cho Ngân hàng C1 thông qua Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C1 số tiền gốc là 20.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 14/5/2025 là 4.650.414 đồng, tổng cộng là 24.650.414 đồng và tiền lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ gốc cho Ngân hàng. Ngoài ra, Ngân hàng không có yêu cầu gì thêm.
Đối với bị đơn là ông Lê Văn C và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị H: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng ông C và bà H không đến Tòa án làm việc. Do đó, Tòa án không lấy được ý kiến của ông C và bà H đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa, do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự 2015. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Lê Văn C và bà Lê Thị H phải trả cho Ngân hàng C1 thông qua Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C1 số tiền gốc 20.000.000 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 05/7/2024 là 2.850.413 đồng và tiền lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ.
Về án phí: Áp dụng Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 26 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Buộc ông Lê Văn C và bà Lê Thị H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu,chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chư Păh theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Xác định tư cách tham gia tố tụng: Tại giấy đề nghị vay vốn mặc dù chỉ có 01 mình ông Lê Văn C ký, nhưng bà Lê Thị H đã ủy quyền cho ông C đại diện cho bà thực hiện đứng tên người vay và thực hiện các giao dịch với Ngân hàng C1, bà cam kết chịu trách nhiệm đối với toàn bộ khoản vay tại Ngân hàng C1 cho đến khi quyền và nghĩa vụ của ông bà với Ngân hàng C1 kết thúc theo quy định. Do đó, Hội đồng xét xử xác định bà H tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thấy rằng: Tại Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay chương trình cho vay nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn, sổ lưu tờ rời theo dõi cho vay, thu nợ, dư nợ thể hiện ngày 26/02/2019, Ngân hàng đã giải ngân cho ông Lê Văn C vay số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất 09%/năm, lãi suất nợ quá hạn là 130% lãi suất khi cho vay, thời hạn vay là 60 tháng, kỳ hạn trả nợ là 06 tháng/lần, số tiền trả nợ là 2.000.000 đồng/lần, mục đích vay là cải tạo giếng và xây nhà vệ sinh. Hạn trả nợ cuối cùng là ngày 26/02/2024, số tiền vay được trả định kỳ hàng tháng vào ngày 11. Tuy nhiên, quá trình thực hiện hợp đồng ông C không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận nên Ngân hàng đã chuyển nợ quá hạn ngày 10/3/2024. Từ ngày giải ngân ông C trả lãi đến ngày 10/01/2024 số tiền là 6.672.335 đồng, còn tiền gốc ông C không trả nợ theo phần kỳ đã thỏa thuận với Ngân hàng là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ.
Vì vậy Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Lê Văn C và bà Lê Thị H phải trả số tiền gốc là 20.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 14/5/2025 là 4.650.414 đồng và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán nợ xong cho Ngân hàng là có căn cứ chấp nhận.
Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên ông Lê Văn C và bà Lê Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự.
- Điều 27 của Luật hôn nhân và gia đình.
- Điều 100, 103 của Luật các tổ chức tín dụng.
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C1. Buộc ông Lê Văn C và bà Lê Thị H phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Ngân hàng C1 thông qua Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C1 số tiền 24.650.414 đồng, trong đó tiền gốc là 20.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 14/5/2025) là 4.650.414 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. (Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bên phải thi hành án phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay).
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Lê Văn C và bà Lê Thị H phải chịu 1.232.520 đồng để sung quỹ Nhà nước.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Gia Lai; -VKSND h.Chư Păh; -THADS h.Chư Păh; -Đương sự; -Lưu HSVA. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Hòa |