vanban.org

Bản án 05/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nợ Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 55D20230047/01, ngày giải ngân 15/02/2023 là: 107.

Nợ Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 55D20230496/01, ngày giải ngân 11/12/2023 là: 475.994.133đồng (Bốn trăm bảy mươi lăm triệu chín trăm chín mươi bốn nghìn một trăm ba mươi ba đồng). Gồm dư nợ gốc: 400.000.000đồng (Bốn trăm triệu đồng); nợ lãi trong hạn: 13.112.878đồng (Mười ba triệu … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP LPVN- Trần Thị N, Trần M"
  • Tòa quyết gì? Nợ Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 55D20230047/01, ngày giải ngân 15/02/2023 là: 107.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI LĂNG
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/DS- ST
Ngày 22/4/2025
“V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng,
Hợp đồng thế chấp tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thanh Khánh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Văn Viết Tuấn

Ông Trần Đình Hùng

Thư ký phiên toà: Ông Trần Ánh Phương, Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên. Ngày 22 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 141/2024/TLST- DS ngày 27 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXX-ST ngày 18 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 05/2025/QĐXX-ST ngày 04 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP L (tên gọi cũ: Ngân hàng TMCP B); địa chỉ: L, số B đường T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Hoàng Kim C - Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ (Văn bản ủy quyền số 1821/2024/QĐ-QT ngày 11/11/2024), có mặt.

Bị đơn: Ông Trần M, sinh năm 1984 và bà Trần Thị N, sinh năm 1996; địa chỉ: thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/11/2024 và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn trình bày:

Từ ngày 14/02/2023 đến ngày 11/12/2023, Ngân hàng thương mại cổ phần L (tên gọi cũ: Ngân hàng TMCP B) - Chi nhánh Q và ông Trần M, bà Trần Thị N có phát sinh quan hệ tín dụng cụ, thể như sau:

- Ngày 14/02/2023, hai bên ký kết hợp đồng tín dụng số HĐTD55D20230047, số tiền cấp tín dụng là 100.000.000đồng, thời hạn cho vay là 120 tháng, lãi suất 12,20%/năm, phương thức áp dụng lãi suất: Lãi cố định trong 03 tháng đầu tiên kể từ ngày bên vay nhận nợ, sau thời gian trên áp dụng lãi suất thả nổi và điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần. Lãi suất nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; lãi suất nợ lãi chậm trả là 10%/năm tính trên dư nợ lãi chậm trả tương đương với thời gian chậm trả.

- Ngày 11/12/2023, hai bên ký kết hợp đồng hạn mức tín dụng số HĐHMTD55D20230496, số tiền cấp tín dụng là 400.000.000đồng, thời hạn cho vay là 06 tháng, lãi suất 9,25%/năm, phương thức áp dụng lãi suất: Lãi cố định trong 03 tháng đầu tiên kể từ ngày bên vay nhận nợ, sau thời gian trên, áp dụng lãi suất thả nổi và điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần. Lãi suất nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; lãi suất nợ lãi chậm trả là 10%/năm tính trên dư nợ lãi chậm trả tương đương với thời gian chậm trả.

Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ, ông Trần M và bà Trần Thị N đã dùng tài sản của mình là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 709, tờ bản đồ số 06, địa chỉ thửa đất tại: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị có diện tích 110,0m2 đất ở tại nông thôn, theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 894848 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 03/8/2021, số vào sổ cấp GCN số: CS 02278 cấp cho bà Trần Thị N.

Sau khi ký kết xong các hợp đồng, ngày 15/02/2023, Ngân hàng giải ngân cho ông Trần M, bà Trần Thị N số tiền 100.000.000đồng (Một trăm triệu đồng) và ngày 11/12/2023 Ngân hàng tiếp tục giải ngân cho ông Trần M và bà Trần Thị N số tiền 400.000.000đồng (Bốn trăm triệu đồng). Tính đến ngày 22/4/2025, tổng dư nợ của ông Trần M và bà Trần Thị N tại Ngân hàng thương mại cổ phần L là: 583.015.368đồng (Năm trăm tám mươi ba triệu không trăm mười lăm nghìn ba trăm sáu mươi tám đồng). Gồm nợ gốc 489.989.990đồng; nợ lãi trong hạn 27.952.443đồng; nợ lãi quá hạn 63.006.671đồng; nợ lãi chậm trả 2.066.264đồng. Trong đó:

- Nợ theo Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 55D20230047/01, ngày giải ngân 15/02/2023 là 107.021.235đồng. Gồm dư nợ gốc: 89.989.990đồng, nợ lãi trong hạn: 14.839.565đồng, nợ lãi quá hạn: 1.387.493đồng, nợ lãi chậm trả 804.187đồng.

- Nợ theo Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 55D20230496/01, ngày giải ngân 11/12/2023 là: 475.994.133đồng. Gồm dư nợ gốc: 400.000.000đồng, nợ lãi trong hạn: 13.112.878đồng, nợ lãi quá hạn: 61.619.178đồng, nợ lãi chậm trả 1.262.077đồng. Ngân hàng thương mại cổ phần L yêu cầu Toà án giải quyết: Buộc ông Trần M và bà Trần Thị N1 phải trả hết số tiền còn nợ nói trên cho Ngân hàng. Trường hợp ông Trần M và bà Trần Thị N1 không trả nợ hoặc trả không đủ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ. Nếu số tiền phát mãi tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Trần M và bà Trần Thị N phải tiếp tục trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Trần M và bà Trần Thị N còn phải tiếp tục chịu tiền lãi của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại các giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ cho đến khi ông Trần M và bà Trần Thị N thanh toán xong các khoản nợ.

- Ý kiến của bà Trần Thị N: Tại bản tự khai ngày 18/12/2024, bản trình bày ý kiến ngày 15/01/2025, đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 17/3/2025 và ngày 08/4/2025. Bà Trần Thị N thừa nhận giữa bà N, ông M và Ngân hàng có ký kết các hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản và hiện nay còn nợ Ngân hàng lại số tiền như Ngân hàng khởi kiện. Bà Trần Thị N đồng ý trả toàn bộ số nợ nêu trên cho Ngân hàng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ và hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Trần M không đến Tòa án làm việc và cũng không nộp cho Tòa án bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong thời gian chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại các Điều 26, 35, 39, 68, 96, 97, 175, 177, 195, 196, 203, 220 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai, bà Trần Thị N, vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; ông Trần M, vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật.

Về hướng giải quyết vụ án: Căn cứ vào các Điều 298, 299, 317, 318, 320, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Điều 100 và khoản 1 Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Trần M và bà Trần Thị N phải trả nợ cho nguyên đơn số tiền tính đến ngày 22/4/2025 là 583.015.368đồng. Gồm nợ gốc là 489.989.990đồng; nợ lãi trong hạn 27.952.443đồng; nợ lãi quá hạn 63.006.671đồng; nợ lãi chậm trả 2.066.264đồng. Trường hợp ông Trần M và bà Trần Thị N không trả hoặc trả không đủ thì Ngân hàng thương mại cổ phần L có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ.

Về án phí và chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 147, 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2026/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Ông Trần M và bà Trần Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ tranh chấp: Ngân hàng thương mại cổ phần L khởi kiện yêu cầu ông Trần M và bà Trần Thị N phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết. Trường hợp ông Trần M và bà Trần Thị N không trả được nợ thì Ngân hàng yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và "Tranh chấp hợp đồng thế chấp tài sản" theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Trần M và bà Trần Thị N đều có địa chỉ tại thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị và vụ án không có yếu tố nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Hải Lăng. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ và hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng cho nguyên đơn và bị đơn. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn: Bà Trần Thị N, vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông Trần M vắng mặt không có lý do. Vì vậy, áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Trần M và bà Trần Thị N.

. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

. Về tính pháp lý của các hợp đồng: Hợp đồng tín dụng số HĐTD55D20230047 ký ngày 14/02/2023, Hợp đồng hạn mức tín dụng số HĐHMTD55D20230496 ký ngày 11/12/2023; Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 55D20230047/01, ngày giải ngân 15/02/2023; Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 55D20230496/01 ngày 11/12/2023; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐTC55D2022102 ngày 05/7/2022 và phụ lục hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 14/02/2023 ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn đều hợp pháp. Do đó, các bên phải có nghĩa vụ thực hiện đúng nội dung đã ký kết tại các hợp đồng.

. Về yêu cầu trả nợ gốc: Sau khi ký kết hợp đồng, Ngân hàng thương mại cổ phần L đã giải ngân cho ông Trần M và bà Trần Thị N đủ số tiền mà các bên đã ký kết. Tính đến ngày 22/4/2025, tổng số tiền gốc mà ông M, bà N còn nợ lại của 02 Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ là 583.015.368đồng (Năm trăm tám mươi ba triệu không trăm mười lăm nghìn ba trăm sáu mươi tám đồng) nên ông M, bà N phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền này.

. Về yêu cầu trả nợ lãi trong hạn: Theo quy định tại Điều 2 của Hợp đồng tín dụng và Điều 3 của Hợp đồng hạn mức tín dụng có nội dung: Mức lãi suất cho vay cụ thể được ghi trên Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ.

Tại Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 55D20230047/01 ngày 15/02/2023 ghi lãi xuất cho vay là 12,20%/năm, thời hạn vay 120 tháng. Từ khi nhận nợ, bị đơn đã trả nợ lãi từ ngày 31/3/2023 đến ngày 29/02/2024 và kỳ 30/3/2024 đã trả lãi được 63.485đồng. Từ kỳ 30/3/2024 đến ngày 22/4/2025 bị đơn chưa trả lãi và lãi suất điều chỉnh thành 15,35% từ ngày 30/3/2024 đến 22/4/2025.

Do đó, số tiền lãi trong hạn của hợp đồng này, tính từ kỳ 30/3/2024 đến ngày 22/4/2025, như sau:

- Từ ngày 29/02/2024 đến kỳ 30/03/2024 là 90.040.000đồng x 30 ngày x 15.35%/365 ngày = 1.072.499đồng (kỳ này đã đóng lãi là 63.485 đồng);

- Từ ngày 30/3/2024 đến kỳ 02/5/2024 là 89.210.000đồng x 33 ngày x 15.35%/365 ngày = 1.238.064đồng;

- Từ ngày 02/5/2024 đến kỳ 31/5/2024 là 88.380.000đồng x 29 ngày x 15.35%/365 ngày = 1.077.873đồng;

- Từ ngày 31/5/2024 đến kỳ 01/7/2024 là 87.550.000đồng x 31 ngày x 15.35%/365 ngày = 1.141.388đồng;

- Từ ngày 01/7/2024 đến kỳ 31/7/2024 là 86.720.000đồng x 30 ngày x 15.35%/365 ngày = 1.094.098đồng;

- Từ ngày 31/7/2024 đến kỳ 31/8/2024 là 85.890.000đồng x 31 ngày x 15.35%/365 ngày = 1.119.747đồng;

- Từ ngày 31/8/2024 đến kỳ 30/9/2024 là 85.060.000đồng x 30 ngày x 15.35%/365 ngày = 1.073.154đồng;

- Từ ngày 30/9/2024 đến kỳ 31/10/2024 là 84.230.000đồng x 31 ngày x 15.35%/365 ngày = 1.098.105đồng;

- Từ ngày 31/10/2024 đến kỳ 30/11/2024 là 83.400.000đồng x 30 ngày x 15.35%/365 ngày = 1.052.211đồng;

- Từ ngày 30/11/2024 đến kỳ 31/12/2024 là 82.570.000đồng x 31 ngày x 15.35%/365 ngày = 1.076.464đồng;

- Từ ngày 31/12/2024 đến kỳ 01/02/2025 là 81.740.000đồng x 32 ngày x 15.35%/365 ngày = 1.100.019đồng;

- Từ ngày 01/02/2025 đến kỳ 28/02/2025 là 80.910.000đồng x 27 ngày x 15.35%/365 ngày = 918.716đồng;

- Từ ngày 28/02/2025 đến kỳ 31/3/2025 là 80.080.000đồng x 31 ngày x 15.35%/365 ngày = 1.044.002đồng;

- Từ ngày 31/3/2025 đến ngày 22/4/2023 là 79.250.000đồng x 22 ngày x 15.35%/365 ngày = 1.733.225đồng;

Tổng cộng là: 14.839.565đồng.

Tại Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 55D20230496/01 ngày 11/12/2023 ghi lãi xuất cho vay là 9,25%/năm thời hạn vay 06 tháng. Từ khi nhận nợ, bị đơn đã trả nợ lãi từ kỳ 31/01/2024 đến kỳ 29/02/2024. Từ kỳ 30/3/2024 đến ngày 22/4/2025, bị đơn vẫn chưa trả lãi và lãi suất điều chỉnh thành 11,90% từ ngày 12/3/2024 đến 22/4/2025.

Do đó, số tiền lãi trong hạn của hợp đồng là:

- Từ ngày 29/02/2024 đến ngày 11/3/2024 là 400.000.000đồng x 11 ngày x 9,25%/365 ngày = 1.115.068đồng.

- Từ ngày 12/3/2024 lãi suất điều chỉnh thành 11.90%/năm nên từ ngày 12/3/2024 đến kỳ 30/3/2024 là 400.000.000đồng x 11,90% x 19 ngày/365 ngày = 2.477.808đồng;

- Từ ngày 30/3/2024 đến kỳ 02/5/2024 là 400.000.000đồng x 33 ngày x 11,90%/365 ngày = 4.303.562đồng;

- Từ ngày 02/5/2024 đến kỳ 31/5/2024 là 400.000.000đồng x 29 ngày x 11,90%/365 ngày =3.781.918đồng;

- Từ ngày 31/5/2024 đến kỳ 11/6/2024 là 400.000.000đồng x 11 ngày x 11,90%/365 ngày =1.434.521đồng.

Tổng cộng là: 13.112.878đồng.

Tổng số tiền lãi trong hạn của 02 Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ là: 27.952.443đồng.

. Về lãi suất quá hạn:

Tại các Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ ghi lãi suất nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Do đó, lãi suất quá hạn được tính như sau:

Đối với Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 55D20230047/01 ngày 15/02/2023 tính từ ngày 30/3/2024 đến 22/4/2025 như sau:

- Từ 30/3/2024 đến ngày 22/4/2025 là 830.000đồng x 338 ngày x 15,35% x 150%/365 ngày = 203.150đồng;

- Từ 02/5/2024 đến ngày 22/4/2025 là 830.000đồng x 355 ngày x 15,35% x 150%/365 ngày = 185.872đồng;

- Từ 31/5/2024 đến ngày 22/4/2025 là 830.000đồng x 326 ngày x 15,35% x 150%/365 ngày = 170.688đồng;

- Từ 01/7/2024 đến ngày 22/4/2025 là 830.000đồng x 295 ngày x 15,35% x 150%/365 ngày = 154.457đồng;

- Từ kỳ 31/7/2024 đến ngày 22/4/2025 là 830.000đồng x 265 ngày x 15,35% x 150%/365 ngày = 138.749đồng;

- Từ 31/8/2024 đến ngày 22/4/2025 là 830.000đồng x 234 ngày x 15,35% x 150%/365 ngày = 122.158đồng;

- Từ 30/9/2024 đến ngày 22/4/2025 là 830.000đồng x 204 ngày x 15,35% x 150%/365 ngày = 106.811đồng;

- Từ 31/10/2024 đến ngày 22/4/2025 là 830.000đồng x 173 ngày x 15,35% x 150%/365 ngày = 90.580đồng;

- Từ 30/11/2024 đến ngày 22/4/2025 là 830.000đồng x 143 ngày x 15,35% x 150%/365 ngày = 74.872đồng;

- Từ 31/12/2024 đến ngày 22/4/2025 là 830.000đồng x 112 ngày x 15,35% x 150%/365 ngày = 58.641đồng;

- Từ 01/02/2025 đến ngày 22/4/2025 là 830.000đồng x 80 ngày x 15,35% x 150%/365 ngày = 41.887đồng;

- Từ 28/02/2025 đến ngày 22/4/2025 là 830.000đồng x 53 ngày x 15,35% x 150%/365 ngày = 27.750đồng;

- Từ 31/3/2025 đến ngày 22/4/2025 là 830.000đồng x 22 ngày x 15,35% x 150%/365 ngày = 11.519đồng.

Tổng cộng là: 1.387.493đồng

Đối với Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 55D20230496/01 ngày 11/12/2023, tính từ ngày 11/6/2024 đến ngày 22/4/2025 là 400.000.000đồng x 11,90% x 315 ngày x 150%/ 365 ngày = 61.619.178đồng. Do đó, số tiền lãi quá hạn của 02 giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ là: 63.006.671đồng.

. Về lãi suất nợ lãi chậm trả:

Tại các Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ ghi: Lãi suất nợ lãi chậm trả bằng 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Do đó, lãi suất nợ lãi chậm trả được tính như sau:

Đối với Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 55D20230047/01 ngày 15/02/2023, tính từ ngày 30/3/2024 đến ngày 22/4/2025 như sau:

- Từ 30/3/2024 đến ngày 22/4/2025 là 1.072.499đồng x 388 ngày x 10%/365 ngày = 114.008đồng;

- Từ 30/3/2024 đến ngày 22/4/2025 là 1.238.064đồng x 355 ngày x 10%/365 ngày = 120.414đồng;

- Từ 31/5/2024 đến ngày 22/4/2025 là 1.077.873đồng x 326 ngày x 10%/365 ngày = 96.270đồng;

- Từ 01/7/2024 đến ngày 22/4/2025 là 1.141.388đồng x 295 ngày x 10%/365 ngày = 92.249đồng;

- Từ 31/7/2024 đến ngày 22/4/2025 là 1.094.098đồng x 265 ngày x 10%/365 ngày = 79.435đồng;

- Từ 31/8/2024 đến ngày 22/4/2025 là 1.119.747đồng x 234 ngày x 10%/365 ngày = 71.787đồng;

- Từ 30/9/2024 đến ngày 22/4/2025 là 1.073.154đồng x 204 ngày x 10%/365 ngày = 59.979đồng;

- Từ 31/10/2024 đến ngày 22/4/2025 là 1.098.105đồng x 173 ngày x 10%/365 ngày = 52.047đồng;

- Từ 30/11/2024 đến ngày 22/4/2025 là 1.052.211đồng x 143 ngày x 10%/365 ngày = 41.224đồng;

- Từ 30/12/2024 đến ngày 22/4/2025 là 1.076.464đồng x 112 ngày x 10%/365 ngày = 33.031đồng;

- Từ 01/02/2025 đến ngày 22/4/2025 là 1.100.019đồng x 80 ngày x 10%/365 ngày = 24.110đồng;

- Từ 28/02/2025 đến ngày 22/4/2025 là 918.716đồng x 53 ngày x 10%/365 ngày = 13.340đồng;

- Từ kỳ 31/3/2025 đến ngày 22/4/2025 là 1.044.002đồng x 22 ngày x 10%/365 ngày = 6.293đồng.

Tổng cộng là: 804.187đồng

Đối với Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 55D20230496/01 ngày 11/12/2023, tính từ ngày 30/3/2024 đến ngày 11/6/2024, như sau:

- Từ 30/3/2024 đến ngày 22/4/2025 là 3.592.877đồng x 388 ngày x 10%/365 ngày = 381.928đồng;

- Từ 02/5/2024 đến ngày 22/4/2025 là 4.303.562đồng x 355 ngày x 10%/365 ngày = 418.566đồng;

- Từ 31/5/2024 đến ngày 22/4/2025 là 3.781.918đồng x 326 ngày x 10%/365 ngày = 337.782đồng;

- Từ 11/6/2024 đến ngày 22/4/2025 là 1.434.521đồng x 315 ngày x 10%/365 ngày = 123.801đồng.

Tổng cộng là: 1.262.077đồng

Do đó, lãi suất nợ lãi chậm trả của 02 giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ là: 2.066.264 đồng.

Tổng cộng nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn và lãi suất nợ lãi chậm trả của 02 hợp đồng là: 93.025.378đồng (Chín mươi hai triệu không trăm hai mươi lăm nghìn ba trăm bảy mươi tám đồng). Vì vậy, buộc bà Trần Thị N và ông Trần M phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần L - Chi nhánh Q toàn bộ số tiền tính đến ngày 22/4/2025 là 583.015.368đồng (Năm trăm tám mươi ba triệu không trăm mười lăm nghìn ba trăm sáu mươi tám đồng). Gồm nợ gốc: 489.989.990đồng (Bốn trăm tám mươi chín triệu chín trăm tám mươi chín nghìn chín trăm chín mươi chín đồng); nợ lãi trong hạn 27.952.443đồng (Hai mươi bảy triệu chín trăm năm mươi hai nghìn bốn trăm bốn mươi ba đồng); nợ lãi quá hạn đồng 63.006.671đồng (Sáu mươi ba triệu không trăm lẻ sáu nghìn sáu trăm bảy mươi mốt đồng); nợ lãi chậm trả 2.066.264đồng (Hai triệu không trăm sáu mươi sáu nghìn hai trăm sáu mươi bốn đồng). Trong đó:

- Theo Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 55D20230047/01, ngày 15/02/2023 là: 107.021.235đồng. Gồm dư nợ gốc: 89.989.990đồng, nợ lãi trong hạn: 14.839.565đồng, nợ lãi quá hạn: 1.387.493đồng, nợ lãi chậm trả 804.187đồng.

- Theo Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 55D20230496/01, ngày 11/12/2023 là: 475.994.133đồng. Gồm dư nợ gốc: 400.000.000đồng, nợ lãi trong hạn: 13.112.878đồng, nợ lãi quá hạn: 61.619.178đồng, nợ lãi chậm trả 1.262.077đồng. [5]. Về xử lý tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số: 709, tờ bản đồ số: 06, tại địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị có diện tích 110,0m2 đất ở tại nông thôn, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 894848 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 03/08/2021, số vào sổ cấp GCN số: CS 02278, cấp cho bà Trần Thị N.

Qua xem xét, thẩm tại chỗ thấy rằng, tài sản thế chấp đúng với nội dung tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐTC55D2022102 ngày 05/7/2022, đất không có ai tranh chấp. Mặt khác, hợp đồng thế chấp đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, trường hợp ông M, bà N không trả được nợ thì tài sản sẽ bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

. Về án phí và lệ phí chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 147, 157 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2026/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Ông Trần M và bà Trần Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 157; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 298, 299, 317, 318, 320, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Điều 100 và khoản 1 Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, tuyên xử: 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. 2. Buộc ông Trần M và bà Trần Thị N phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần L (tên gọi cũ: Ngân hàng TMCP B) - Chi nhánh Q toàn bộ số tiền tính đến ngày 22/4/2025 là 583.015.368đồng (Năm trăm tám mươi ba triệu không trăm mười lăm nghìn ba trăm sáu mươi tám đồng). Gồm nợ gốc: 489.989.990đồng (Bốn trăm tám mươi chín triệu chín trăm tám mươi chín nghìn chín trăm chín mươi đồng), nợ lãi trong hạn 27.952.443đồng (Hai mươi bảy triệu chín trăm năm mươi hai nghìn bốn trăm bốn mươi ba đồng); nợ lãi quá hạn: 63.006.671 đồng (Sáu mươi ba triệu không trăm lẻ sáu nghìn sáu trăm bảy mươi mốt đồng); nợ lãi chậm trả 2.066.264đồng (Hai triệu không trăm sáu mươi sáu nghìn hai trăm sáu mươi bốn đồng). Trong đó:

- Nợ Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 55D20230047/01, ngày giải ngân 15/02/2023 là: 107.021.235đồng (Một trăm lẻ sáu triệu chín trăm hai mươi mốt nghìn hai trăm ba mươi lăm đồng). Gồm dư nợ gốc: 89.989.990đồng (T mươi chín triệu chín trăm tám mươi chín nghìn chín trăm chín mươi đồng), nợ lãi trong hạn: 14.839.565đồng (Mười bốn triệu tám trăm ba mươi chín nghìn năm trăm sáu mươi lăm đồng), nợ lãi quá hạn: 1.387.493đồng (Một triệu ba trăm tám mươi bảy nghìn bốn trăm chín mươi ba đồng), nợ lãi chậm trả 804.187đồng (T trăm lẻ bốn nghìn một trăm tám mươi bảy đồng).

- Nợ Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 55D20230496/01, ngày giải ngân 11/12/2023 là: 475.994.133đồng (Bốn trăm bảy mươi lăm triệu chín trăm chín mươi bốn nghìn một trăm ba mươi ba đồng). Gồm dư nợ gốc: 400.000.000đồng (Bốn trăm triệu đồng); nợ lãi trong hạn: 13.112.878đồng (Mười ba triệu một trăm mười hai nghìn tám trăm bảy mươi tám đồng); nợ lãi quá hạn: 61.619.178đồng ( Sáu mươi mốt triệu sáu trăm mười chín nghìn một trăm bảy mươi tám đồng); nợ lãi chậm trả 1.262.077đồng (Một triệu, hai trăm sáu mươi hai nghìn không trăm bảy mươi bảy đồng). Trường hợp ông Trần M, bà Trần Thị N không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ toàn bộ các khoản nợ thì Ngân hàng thương mại cổ phần L (tên gọi cũ: Ngân hàng TMCP B) - Chi nhánh Q có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản đã thế chấp tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đã được ký kết giữa các bên để thu hồi nợ, cụ thể: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số: 709, tờ bản đồ số: 06, tại địa chỉ: thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị có diện tích 110,0m2 đất ở tại nông thôn, theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 894848 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 03/08/2021, số vào sổ cấp GCN số: CS 02278, cấp cho bà Trần Thị N. Trường hợp sau khi xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ, Ngân hàng thương mại cổ phần L (tên gọi cũ: Ngân hàng TMCP B) - Chi nhánh Q có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản khác của ông Trần M và bà Trần Thị N để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi trả hết nợ. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Trần M, bà Trần Thị N còn phải tiếp tục chịu tiền lãi của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số HĐTD55D20230047 ký ngày 14/02/2023, Hợp đồng hạn mức tín dụng số HĐHMTD55D20230496 ký ngày 11/12/2023, Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 55D20230047/01, ngày giải ngân 15/02/2023 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 55D20230496/01, ngày giải ngân 11/12/2023 cho đến khi ông Trần M, bà Trần Thị N thanh toán xong các khoản nợ. Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án. 3. Về án phí và chi phí tố tụng:

- Về án phí: Buộc ông Trần M, bà Trần Thị N phải chịu 25.490.000đồng (Hai mươi lăm triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần L (tên gọi cũ: Ngân hàng TMCP B) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.813.000đồng (Bảy triệu tám trăm mười ba nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số BLTU/2023/0000056 ngày 23/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.

- Về chi phí tố tụng: Ông Trần M, bà Trần Thị N phải chịu 2.500.000đồng (Hai triệu năm trăm nhìn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Ngân hàng thương mại cổ phần L đã nộp đủ số tiền 2.500.000đồng (Hai triệu năm trăm nhìn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Do đó, ông Trần M, bà Trần Thị N phải hoàn trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần L số tiền này. 4. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bán án được niêm yết./.

Cỡ chữ