- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng CSXH - Phạm Văn Bảy"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C.
- Căn cứ chính? Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2025/DS-ST Ngày 19/3/2025 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ, TỈNH KON TUM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tiến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Minh Tuấn và bà Huỳnh Thị Thu Liên.
Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đức Huynh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Hồng Khuyên – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 77/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 11 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 02 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 02/2024/QĐST-DS ngày 28/02/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng C.
Địa chỉ: Tòa nhà C, bán đảo L, quận H, TP Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T – Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Văn T1 – Giám đốc PGD NHCSXH huyện Đ theo Văn bản ủy quyền số 7300/QĐ-NHCS ngày 19/9/2019. Có mặt.
Địa chỉ: T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.
- Bị đơn: Ông Phạm Văn B, sinh năm 1973. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 29/10/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày và yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
Ngày 07/6/2018, ông Phạm Văn B được Ngân hàng C - Phòng Giao dịch huyện Đ phê duyệt cho vay vốn theo chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn theo Hợp đồng tín dụng (sổ vay vốn) số 6600000712960696 với số tiền là 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng), thời hạn vay 05 năm, lãi suất trong hạn 9%/năm, lãi suất quá hạn là 11,7%/năm, thời hạn trả nợ cuối cùng là 07/6/2023. Khoản vay đã chuyển nợ quá hạn kể từ ngày 08/6/2023 nhưng đến nay khách hàng không trả được số nợ gốc và lãi theo hợp đồng vay cho ngân hàng.
Tính đến ngày 19/3/2025, ông Phạm Văn B còn nợ Ngân hàng Chính sách xã hội số tiền gốc và lãi tổng cộng là 16.288.467 đồng. Trong đó nợ tiền gốc 12.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn là 4.288.467. đồng.
Nay Ngân hàng C khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Phạm Văn B phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng với số tiền tổng cộng cả gốc và lãi là 16.288.467 đồng. Trong đó nợ tiền gốc 12.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn là 4.288.467. đồng và phải tiếp tục trả tiền lãi cho Ngân hàng theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hồ sơ vay kể từ ngày 20/3/2025 cho đến khi trả xong nợ.
* Đối với bị đơn ông Phạm Văn B: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc niêm yết, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông Phạm Văn B không đến Tòa án làm việc, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà tham gia phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia phiên tòa: Kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; đối với bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 280; Điều 357; Điều 463; Điều 466, Điều 470 Bộ luật dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C.
Buộc ông Phạm Văn B phải trả cho Ngân hàng Chính sách xã hội tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 19/3/2025 là: 16.288.467 đồng. Trong đó nợ tiền gốc 12.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn là 4.288.467 đồng và lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ ngoài ra bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án, thấy rằng: Khi thực hiện thủ tục vay vốn tại Ngân hàng C, bị đơn ông Phạm Văn B có địa chỉ nơi cư trú tại: Thôn A, xã H, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Trong quá trình thực hiện hợp đồng cũng như trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn không có mặt tại địa phương nhưng không thông báo cho Ngân hàng biết về nơi cư trú mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40 Bộ luật Dân sự. Vì vậy, việc Ngân hàng khởi kiện vụ án tại Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà và Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự đồng thời xác định đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với bị đơn ông Phạm Văn B đã được Tòa án thông báo, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng của vụ án theo quy định của Bộ luật Tụng dân sự nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Như vậy, ông Phạm Văn B đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xét hợp đồng tín dụng: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của người đại diện theo ủy quyền nguyên đơn thể hiện: Vào ngày 07/6/2018, Ngân hàng C - Phòng Giao dịch huyện Đ đã phê duyệt và cho ông Phạm Văn B vay số tiền 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) theo hợp đồng tín dụng (sổ vay vốn) số 6600000712960696; mục đích để nâng cấp nhà vệ sinh và giếng nước, thời hạn vay 05 năm, lãi suất trong hạn 9%/năm, lãi suất quá hạn là 11,7%/năm, thời hạn trả nợ cuối cùng là 07/6/2023. Qúa trình thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên ông Phạm Văn B đã vi phạm hợp đồng dẫn đến tình trạng quá hạn do không thanh toán được khoản nợ gốc, lãi đến hạn theo cam kết tại hợp đồng tín dụng và giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay, vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi của bên vay theo quy định tại Điều 280, Điều 466 Bộ luật Dân sự. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C đối với ông Phạm Văn B là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Ông Phạm Văn B phải trả cho Ngân hàng C tổng số tiền gốc, lãi tính đến ngày 19/3/2025 là 16.288.467 đồng. Trong đó nợ tiền gốc 12.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn là 4.288.467 đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Đơn khởi kiện của Ngân hàng C được chấp nhận nên bị đơn ông Phạm Văn B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 280; Điều 357; Điều 463; Điều 466; Điều 470 Bộ luật dân sự.
Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng.
Căn cứ Điều 7; Điều 8; điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C.
1. Về nghĩa vụ trả nợ.
Buộc ông Phạm Văn B phải trả cho Ngân hàng Chính sách xã hội tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 19/3/2025 là: là 16.288.467 đồng (Mười sáu triệu hai trăm tám mươi tám nghìn bốn trăm sáu mươi bảy đồng). Trong đó nợ tiền gốc 12.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn là 4.288.467 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm (ngày 19/3/2025) cho đến khi thi hành án xong, ông Phạm Văn B còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng tín dụng số 6600000712960696. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng và khế ước vay vốn, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc ông Phạm Văn B phải chịu 814.423 đồng (T2 trăm mười bốn nghìn bốn trăm hai mươi ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng C không phải nộp tiền tạm ứng án phí nên không xem xét.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh Kon Tum; - VKSND huyện Đăk Hà; - Chi cục THADS huyện Đăk Hà; - Các đương sự; - Lưu Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Hữu Tiến |