vanban.org

Bản án 05/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng dịch vụ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Quang H, ông Lê Hồng Th; Ông Trần Thanh L Ông Nguyễn Khắc B; Ông Phan Ngọc A, ông Lê Trí C và bà Trần Thị H;

Buộc Ủy ban nhân dân xã Đăk Drô, huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông phải thanh toán cho các ông Lê Quang H, ông Lê Hồng Th, ông Trần Thanh L, ông Nguyễn Khắc B, ông Phan Ngọc A, ông Lê Trí C và bà Trần Thị H số tiền gốc 688.157.000. đồng (Sáu trăm tám mươi tám triệu một trăm năm mươi bảy nghìn đồng) và 4…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng dịch vụ — án dân sự — "nguyên đơn ông Lê Quang H, ông Lê Hồng Th; Ông Trần Thanh L Ông Nguyễn Khắc B; Ông Phan Ngọc A, ông Lê Trí C và bà Trần Thị H -Bị đơn Ủy ban…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Quang H, ông Lê Hồng Th; Ông Trần Thanh L Ông Nguyễn Khắc B; Ông Phan Ngọc A, ông Lê Trí C và bà Trần Thị H;
  • Căn cứ chính? Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 119 Bộ luật Dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NÔ
TỈNH ĐẮK NÔNG
Bản án số: 05/2025/DS-ST
Ngày 26 – 6 - 2025
V/v “Tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa
vụ trả tiền phát sinh từ Hợp đồng thi công
xây dựng công trình”

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐĂK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Xuân Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Khải và ông Hồ Quang Hiển.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng Hải - Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thơm - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Krông Nô tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 19/2025/TLST-DS, ngày 08 tháng 04 năm 2025, về “Tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền phát sinh từ Hợp đồng thi công xây dựng công trình”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-DS, ngày 11/6/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

+ Ông Lê Quang H, sinh năm 1954; Địa chỉ: Thôn Đắk H, xã Đắk D, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông – Có mặt.

+ Ông Lê Hồng Th, sinh năm 1962; Địa chỉ: Thôn Đắk H, xã Đắk D, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.

+ Ông Trần Thanh L, sinh năm 1971; Địa chỉ: Thôn Đắk H, xã Đắk D, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Khắc B, sinh năm 1964; Địa chỉ: Thôn Đắk H, xã Đắk D, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.

+ Ông Phan Ngọc A, sinh năm 1974; Địa chỉ: Thôn Đắk H, xã Đắk D, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.

+ Ông Lê Trí C, sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn Đắk H, xã Đắk D, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.

+ Bà Trần Thị H, sinh năm 1962; Địa chỉ: Thôn Đắk H, xã Đắk D, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lê Hồng Th, ông Trần Thanh L, ông Nguyễn Khắc B, ông Phan Ngọc A, ông Lê Trí C và bà Trần Thị H: Ông Lê Quang H, sinh năm 1954; Địa chỉ: Thôn Đắk H, xã Đắk D, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông – Có mặt.

- Bị đơn: Ủy ban nhân dân xã Đắk D, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông; Địa chỉ: Buôn K, xã Đắk D, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Phạm Ngọc Th – chức vụ: Chủ tịch UBND xã Đăk Drô, huyện Krông Nô; địa chỉ: Buôn K, xã Đắk D, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/03/2025 (nộp trực tiếp tại Tòa án ngày 08/04/2025), quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diện nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 22/11/2017, ông Lê Quang H đã đại diện cho nhóm thợ xã Đắk Drô, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông là nguyên đơn trong vụ án gồm ông Lê Quang H, ông Lê Hồng Th, ông Trần Thanh L, ông Nguyễn Khắc B, ông Phan Ngọc A, ông Lê Trí C và bà Trần Thị H ký kết hợp đồng thi công xây dựng công trình số: 06/2017/HD-XL về việc xây lắp hạng mục: Nhà lồng, PCCC, nhà vệ sinh và hạ tầng kỹ thuật, có tên công trình là: Chợ nông thôn xã Đắk Drô. Địa điểm xây dựng: xã Đắk Drô, huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông. Sau khi ký kết hợp đồng thì tôi đã cho thợ tiến hành công việc theo hợp đồng. Công trình đã thực hiện xong ngày 22/5/2018 và được nghiệm thu. Tuy nhiên, UBND xã Đắk Dvẫn không bố trí kinh phí thanh toán chi phí xây dựng cho tôi số tiền là 688.157.000 đồng mà đáng lẽ ra UBND xã phải thanh toán cho tôi xong trước ngày 31/12/2018. Toàn bộ chi phí xây dựng tôi phải vay ngân hàng ứng trước để xây dựng đúng tiến độ thời gian, đảm bảo chất lượng. Từ năm 2018 đến nay tôi vẫn không được thanh toán số tiền trên nên tôi phải trả rất nhiều tiền lãi cho ngân hàng. Vì vậy, tôi và UBND xã Đắk Dđã tiến hành làm việc ngày 11/7/2023, trong đó UBND xã Đắk Dxác nhận còn nợ tôi số tiền 688.157.000 đồng nhưng không bố trí được nguồn kinh phí để thanh toán cho chúng tôi. Do đó UBND xã Đắk Dphải chịu khoản lãi theo quy định từ ngày vì phạm nghĩa vụ thanh toán ngày 01/01/2019 đến khi thanh toán xong.

Vì vậy, chúng tôi khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông giải quyết: Buộc Ủy ban nhân dân (UBND) xã Đắk Drô, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông phải thanh toán cho chúng tôi số tiền xây dựng công trihnf chợ nông thôn mới Đăk Drô còn nợ là 688.157.000 đồng và tiền lãi chậm trả với mức lãi suất 10%/năm = 0,83/tháng tính từ ngày 01/01/2019 đến ngày 25/3/2025 là 73 tháng 26 ngày. Tiền lãi là 688.157.000 đồng x 0,83%/tháng x 73 tháng 26 ngày = 425.311.000 đồng (làm tròn). Tổng số tiền gốc và lãi UBND xã phải trả là 1.113.488.000 đồng và tiếp tục tính lãi cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối tiền còn nợ chưa trả và yêu cầu tính tiền lãi chậm trả 0,83%/tháng trên số nợ gốc tính từ ngày 01/01/2019.

Ý kiến của đại diện bị đơn ông Phạm Ngọc Th chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đăk Drô trình bày: Nội dung kiến nghị của Ông Lê Quang H được ông gủi đền nhiều cấp nhiều ngành, và UBND xã đã tổ chức làm việc nhiều lần nhưng vẫn chưa giải quyết được cụ thể như:

Thực hiện công văn số 1230/UBND-VP ngày 10/06/2024 của UBND huyện Krông Nô về việc đôn đốc giải quyết, báo cáo nội dung đơn của ông Lê Quang H, trú tại Thôn Đắk H, xã Đắk D, huyện Krông Nô trong đó yêu cầu UBND xã Đắk Dgiải quyết vụ việc nêu trên đến kết quả cuối cùng, đồng thời thông báo Lê Quang H được biết kết quả để thực hiện các thủ tục pháp lý liên quan theo quy định nếu có vướng mắc. UBND xã báo cáo kết quả triển khai thực hiện như sau:

Thực hiện công văn số 861/UBND-VP ngày 11/5/2023 của UBND huyện Krông Nô về việc giải quyết nội dung đơn của ông Lê Quang H trú tại Thôn Đắk H, xã Đắk D, huyện Krông Nô tỉnh Đăk Nông. Ngày 11/7/2023 UBND xã Đăk Drô tổ chức buổi làm việc với các thành phần trong biên bản kèm theo.

Trong nội dung cuộc họp Ông Lê Quang H ý kiến “Hiện nay công trình chợ lồng xã Đắk Drô đã hoàn thành nghiệm thu đưa vào sử dụng đã lâu. Số nợ ban đầu tôi đồng ý với điều kiện bán được kiốt chợ thanh toán cho nhà thầu. Tuy nhiên đến nay đã gần 5 năm xã chưa thanh toán cho nhà thầu. Vào thời điểm đó gia đình đã vay ngân hàng để đầu tư vào công trình số tiền lớn, dẫn đến phải trả lãi ngân hàng kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn.Đề nghị UBND xã khẩn trương thanh toán nợ cho nhà thầu”. Tham gia cuộc họp có đồng chí Nguyễn Thị Kim Bình chuyên viên Phòng tài chính kế hoạch huyện về dự và có ý kiến như sau: “Công trình chợ xã Đắk Drô được đầu tư xây dựng năm 2017 hoàn thành đưa vào sử dụng năm 2018, được đầu tư bằng nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020, thực hiện đầu tư theo cơ chế hỗ trợ từ ngân sách nhà nước quy định tại Nghị quyết số 21/2013/NQ-HĐND ngày 19/7/2013 của HĐND tỉnh Đắk Nông. UBND Huyện đã bố trí ngân sách đảm bảo theo quy định. Nên việc tiếp tục bố trí nguồn vốn ngân sách nhà nước ( ngân sách xã) để thanh toán nợ đọng cho công trình này là không đúng với quy định tại Nghị quyết số 21/2013/NQ-HĐND ngày 19/7/2013 của HĐND tỉnh Đắk Nông. Quyết định số 1278/QĐ-UBND ngày 02/08/2017 của UBND tỉnh về việc phê duyệt chủ trương đầu tư danh mục công trình dự án nhón C quy mô nhỏ thuộc chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới năm 2017 và quyết định số 638/QĐ-UBND ngày 26/4/2018 của UBND tỉnh phê duyệt chủ trương đầu tư danh mục công trình, dự án nhóm C quy mô thuộc nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia năm 2018.”đồng thời để giảm bớt khó khăn cho ông Hoành UBND xã đã hướng dẫn ông xem xét thành lập Hợp tác xã để tham gia thực hiện chuyển đổi mô hình quản lý chợ xã Đăk Drô. Tuy nhiên ông cũng không có nhu cầu.

Ngày 20/11/2023, UBND xã đã ban hành báo cáo số: 241/BC-UBND báo cáo về việc giải quyết nội dung đơn của ông Lê Quang H.

Ngày 08/01/2024, UBND huyện tiếp tục có văn bản số 40/UBND-VP ngày 01/01/2024 về việc khẩn trưởng giải quyết nội dung đơn của ông Lê Quang H theo phiếu chuyển đơn kiến nghị số 377/BCTD ngày 04/10/2023; phiếu chuyển số 01/PC-DN ngày 04/01/2024 của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND tỉnh Đăk Nông. Ngày 26/ 02/2024 ủy ban nhân dân xã Đăk Drô tiếp tục mời ông Lê Quang H và các thành phần liên quan họp để xử lý đơn của ông. Tuy nhiên cũng chưa có giải pháp giải quyết dứt điểm kiến nghị của ông cho phù hợp với Luật ngân sách cũng như các quy định của nhà nước có liên quan.

Bên cạnh đó ngày 29/3/2024, Phòng Tài chính kế hoạch huyện tổ chức cuộc họp tháo gỡ vướng mắc trong thanh toán nợ cho công trình chợ nông thôn xã Nam Nung có mời UBND xã Đăk Drô tham gia (trường hợp tương tự như chợ xã Đăk Drô), theo đó ý kiến của Lãnh đạo Kho bạc nhà nước huyện“..... quyết định phê duyệt đã phê duyệt nguồn vốn ngân sách 70% và nguồn vốn huy động 30% nên Kho bạc không thể giải ngân do sai quy định nguồn vốn. Để thực hiện đúng quy định thì đề nghị đơn vị điều chỉnh lại quyết định phê duyệt báo cáo kinh tế kỹ thuật phần cơ cấu nguồn vốn là ngân sách trung ương và ngân sách xã để thực hiện thanh toán cho đúng quy định.... việc mượn nguồn vốn bán đấu giá đất để bố trí vốn thanh toán nợ cho công trình chợ thì theo Luật ngân sách không có quy định về việc hoạch toán về mượn nguồn vốn.....”. Ý kiến của Lãnh đạo Phòng Tài chính Kế hoạch huyện “....Theo ý kiến của đồng chí Luận thì việc điều chỉnh quyết định phê duyệt báo cáo kinh tế kỹ thuật là rất khó, đồng thời theo văn bản của Sở Kế hoạch và đầu tư đã trả lời cụ thể về bố trí nguồn vốn của công trình chợ theo Nghị quyết số 21/2013/NQ-HĐND ngày 19/7/2013 của HĐND tỉnh quy định tỷ lệ vốn ngân sách hỗ trợ đầu tư công trình chợ là 70% và vốn huy động đóng góp của người dân là 30%. Cho nên việc điều chỉnh quyết định phê duyệt báo cáo kinh tế kỹ thuật là không đúng quy định...”.

Như vậy qua nội dung các buổi làm việc với ông Lê Quang H, qua ý kiến của lãnh đạo Phòng Tài chính Kế hoạch huyện, lãnh đạo Kho bạc nhà nước huyện và các cá nhân có liên quan, thì nguồn chi trả số kinh phí trên là nguồn huy động hợp pháp khác nên việc tạm ứng nguồn ngân sách thực hiện thanh toán số kinh phí còn nợ Tổ đội thi công xây dựng công trình Chợ nông thôn mới xã Đăk Drô số tiền 688.157.000 đồng là không đảm bảo theo Luật ngân sách và các quy định khác của nhà nước. Việc triển khai đấu giá các ki ốt, sạp tại chợ cũng chưa thực hiện được lý do chợ xã Đăk Drô nằm trong danh mục chuyển đổi mô hình quản lý chợ của UBND tỉnh, tại QĐ số: 314/QĐ-UBND ngày 17/05/2023 của UBND tỉnh Đăk Nông về chuyển đổi mô hình quản lý, kinh doanh, khai thác chợ giai đoạn đến năm 2025 trên địa bàn tỉnh Đăk Nông.

Vì vậy việc giải quyết những vấn đề cụ thể người khởi kiện yêu cầu không thực hiện được. Bị đơn đồng ý trả số tiền gốc là 688.157.000 đồng, không đồng ý trả số tiền lãi với lãi suất 0,83% tháng tính từ ngày 01/01/2019 đến ngày 26/3/2025 là 425.311.000 đồng và cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

* Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ gồm:

Tài liệu do nguyên đơn cung cấp gồm:

Hợp đồng thi công xây dựng công trình số 06/2020/HĐ-XD ngày 12/02/2020 (Bản pho to chứng thực); 01 Căn cước công dân (pho to chứng thực); 01 Nội dung cuộc họp ngày 06//2017; Quyếtđịnh phê duyệt số 143/QĐ-UBND ngày 25/12/2018; 01 Bảng quyết toán thu chi xây dựng; Công văn 2218/UBND-VPngày 24/10/2023; 01 Phiếu chuyển đơn; Công văn số 40/UBND-VP ngày 08/01/2024; Công văn số 40/UBND-VP ngày 08/01/2024; Biên bản làm biệc NGÀY 11/7/2023. Hợp đồng ủy quyền.

- Bản tự khai của nguyên đơn, Biên bản lấy lời khai.

*Tài liệu do bị đơn cung cấp gồm:

Bản trình bày ý kiến, bản tự khai; Bộ Hợp đồng thi công xây dựng công trình số 06/2020/HĐ-XD ngày 12/02/2020

- Báo cáo thẩm tra số 91/BCTT-TCKH ngày 20/12/2018

- Báo cáo quyết toán đầu tư chợ nông thôn xã đầu tư đề ngày 05/11/2018; -Thông báo 47a/KTHT-KTHT-QLCL ngày 24/5/2018 về việc thông báo kết quả nghieemjthu hoàn thành công trình xây dựng; phiếu đè ngị rút vốn đầu tư

- Quyết định 1278/QĐ-UBND ngày 02/8/2017, phê duyệt đầu tư

- Quyết định 118/QĐ-UBND ngày 20/11/2017, phê duyệt chọn nhà đầu tư

- Quy chế hoạt động của Ban quản lý các chương trình mục tiêu quốc gia xã Ia K giai đoạn 2016 -2020;

-Biên bản nghiệm thu hoàn thành công trình ngày 20/8/2018

- Quyết định 143/QĐ-UBND ngày 25/12/2018, phê duyệt quyết toán dự toán hoàn thành đầu tư

- Bản tự khai của nguyên đơn, Biên bản lấy lời khai. Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ

Tại phiên tòa:

- Người đại diện theo pháp của nguyên đơn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày có trong hồ sơ.

- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Công nhận bị đơn còn nợ nguyên đơn là 688.157.000 đồng, không đồng ý trả số tiền lãi với lãi suất 0,83% tháng tính từ ngày 01/01/2019 đến ngày 26/3/2025 là 425.311.000 đồng và cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 30/5/2025, Hiện trạng công trình xây dựng chơ xã; bao gồm nhà Lồng cấp III hang hoạt động, có kết cấu mái lợp tôn, trụ bê tong xà gồ sắt, sân bê tông (về kích thước theo hồ sơ xây dựng); nhà vệ sinh cấp 04 đang sử dụng được, kết cấu tường gạch, mái lợp tôn, nền gạch men; 01 đài nước; 01 giếng khoan; hệ thống cấp điện chống sét, cấp nước;

Tất cả đúng như hồ sơ thiết kế ban đầu, đưa vào sử dụng từ năm 2018, Công trình do ông hoành bỏ tiền mua nguyên vật liệu xây dựng, Không xem xét chất lượng công trình.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa; tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các trình tự thủ tục quy định; Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dụng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của đại diện nguyên đơn, buộc UBND xã Đăk Drô huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông phải thanh toán cho nhóm thợ xây dựng xã Đăk Drô do ông Lê Quang H đại diện số tiền nợ gốc là 688.157.000 đồng và tiền lãi suất quá hạn từ ngày 01/01/2019 đến ngày xét xử 26/6/2025 theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Buộc Uỷ ban nhân dâ xã Đăk Drô huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả thẩm tra công khai các tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1].Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ông Lê Quang H, ông Lê Hồng Th; Ông Trần Thanh L Ông Nguyễn Khắc B, ông Phan Ngọc A, ông Lê Trí C và bà Trần Thị H khởi kiện Uỷ ban nhân dân xã Đăk Drô, huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông vi phạm nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ 688.157.000 đồng và tiền lãi suất quá hạn thanh toán theo quy định của pháp luật phát sinh từ Hợp đồng thi công xây dựng công trình số 06/2017/HĐ-XL về việc xây lắp hạng mục: nhà lồng, Phòng cháy chữa cháy (PCCC), nhà vệ sinh và hạ tầng kỹ thuật có tên công trình là: Chợ nông thôn xã Đăk Drô, địa điểm tại xã Đăk Drô huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông Do đó yêu cầu khởi kiện của Nhóm thợ xã Đăk Drô do ông Lê Quang H được xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền theo hợp đồng thi công xây dựng công trình” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2]. Về thời hiệu khởi kiện: Thời hiệu khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 3 năm kể từ ngày người có quyền biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm. quá trình giải quyết vụ án Nguyên đơn, bị đơn không đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu. Vì vậy, Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc. Nếu hết thời hiệu khởi kiện nhưng các bên không có yêu cầu Tòa án áp dụng thì Tòa vẫn sẽ giải quyết vụ án bình thường.

[2]. Về nội dung tranh chấp:

[2.1]. Về yêu cầu thanh toán nợ gốc 688.157.000 đồng: Hội đồng xét xử thấy rằng: Căn cứ Hợp đồng thi công xây dựng công trình số: 06/2017/HĐ-XD ngày 22/11/2017 và kết quả nghiệm thu, quyết toán thì Nhóm thợ xã Đăk Drô do ông Hoành đại diện đã hoàn thành xong gói thầu “về việc xây lắp hạng mục: nhà lồng, Phòng cháy chữa cháy (PCCC), nhà vệ sinh và hạ tầng kỹ thuật có tên công trình là: Chợ nông thôn xã Đăk Drô” vào tháng 05/2018 (Có biên bản nghiệm thu khối lượng xây lắp, hoàn thành công trình và đã Quyết toán công trình). Theo hợp đồng trên thì giá trị hợp đồng là 1.965.656.000 đồng hình thức hợp đồng trọn gói. Căn cứ vào mục 8.5, 8.6 Điều 8 của Hợp đồng thì trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày chủ đầu tư, Ngân hàng hoặc Kho bạc nhà nước phục vụ thanh toán nhận được hồ sơ thanh toán hợp lệ của nhà thầu thì bên giao thầu sẽ chuyển đủ giá trị của lần thanh toán đó cho nhà thầu. Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn và bị đơn đều xác nhận đến thời điểm hiện tại, bị đơn còn nợ lại nguyên đơn là 688.157.000 đồng. Do đó có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 688.157.000 đồng.

[2.1]. Về yêu cầu thanh toán tiền lãi suất quá hạn của nguyên đơn: Hội đồng xét xử xét thấy hợp đồng giữa các bên ký kết không thỏa thuận tính lãi, nhưng các bên có tiến hành nghiệm thu bàn giao công trình, khi chấm dứt hợp đồng cũng có văn bản thỏa thuận, trong hợp đồng Điều 22 có Quy định rủi ro và bất khả kháng, nhưng những lý do bị đơn viện dẫn không thuộc Điều 22 của hợp đồng nên áp dụng vào Điều 43 nghị định 37/2015 NĐ-CP ngày 22/4/2015 quy định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng xây dựng theo đó “Trường hợp, bên giao thầu thanh toán không đúng thời hạn và không đầy đủ theo thỏa thuận trong hợp đồng thì phải bồi thường cho bên nhận thầu theo lãi suất quá hạn do ngân hàng thương mại nơi bên nhận thầu mở tài khoản thanh toán công bố tương ứng với các thời kỳ chậm thanh toán. Lãi chậm thanh toán được tính từ ngày đầu tiên chậm thanh toán cho đến khi bên giao thầu đã thanh toán đầy đủ cho bên nhận thầu, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”, Điều 357 của Bộ luật dân sự thì bên vi phạm nghĩa vụ thanh toán phải chịu lãi suất chậm trả. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo mức lãi suất 10%/năm tương đương 0,83%/tháng từ ngày 01/01/2019 xét thấy yêu cầu của Nguyên đơn là có căn cứ nên cần chấp nhận cần buộc bị đơn trả cho Nguyên đơn số tiền lãi chậm trả như sau;

Nguyên đơn yêu cầu tính tiền lãi từ ngày vi phạm nghĩa vụ trả nợ ngày 01/01/2019 đến ngày xét xử 26/6/2025 là 77 tháng 25 ngày, với mức lãi suất 10%/năm = 0.83%/tháng; tiền lãi là 688.157.000 đồng x 0.83%/tháng x 77 tháng 25 ngày = 444.618.000 đồng.

Tổng số tiền gốc, lãi chậm trả bị đơn phải trả cho Nguyên đơn là 1.132.775.000 đồng.

[3] Về chi phí tố tụng:

- Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 2.500.000 đồng; ông Lê Văn Hoành đã nộp tạm ứng chi phí trên nên buộc Ủy ban nhân dân xã Đăk Drô, huyện Krông phải trả lại cho nguyên đơn chi phí 2.500.000 đồng chi phí trên. Số tiền tạm ứng còn lại đã trả xong cho nguyên đơn.

[4]. Xét quan điểm của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng là đúng quy định của pháp luật. Về nội dung đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp nên chấp nhận.

[5]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ của số tiền phải trả 1.132.775.000 đồng = 36.000.000 đồng + {( = 1.132.775.000 đồng - 800.000.000 đồng = 332.775.000 đồng x 3% = 9.983.000 đồng)} = 45.983.000 đồng thẩm theo quy định của pháp luật. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn số tiền 22.703.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0008293 ngày 08/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông.

[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

-Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 157 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự

-Căn cứ các Điều 116, 117, 119, 274, 275, 280, 351, 353 và Điều 357 của Bộ luật dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, tun xử:

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Quang H, ông Lê Hồng Th; Ông Trần Thanh L Ông Nguyễn Khắc B; Ông Phan Ngọc A, ông Lê Trí C và bà Trần Thị H;

2. Buộc Ủy ban nhân dân xã Đăk Drô, huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông phải thanh toán cho các ông Lê Quang H, ông Lê Hồng Th, ông Trần Thanh L, ông Nguyễn Khắc B, ông Phan Ngọc A, ông Lê Trí C và bà Trần Thị H số tiền gốc 688.157.000. đồng (Sáu trăm tám mươi tám triệu một trăm năm mươi bảy nghìn đồng) và 444.618.000 đồng (Bốn trăm bốn mươi bốn triệu sáu trăm mười tám nghìn đồng) lãi chậm trả. Tổng cộng 1.132.775.000 (Một tỷ một trăm ba mươi hai triệu bảy trăm bảy mươi lăm nghìn đồng)

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự.

3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng). Ông Lê Văn Hoành đã nộp tạm ứng chi phí trên nên buộc Ủy ban nhân dân xã Đăk Drô, huyện Krông phải trả lại cho nguyên đơn chi phí 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) chi phí trên.

4. Về án phí dân sự sở thẩm: Án phí dân sự sơ thẩm là 45.983.000 đồng đồng (Bốn mươi lăm triệu chín trăm tám mươi ba nghìn đồng). Buộc Ủy ban nhân dân xã Đăk Drô, huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn số tiền 22.703.000 đồng (Hai mươi hai triệu bảy trăm lẻ ba nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0008293 ngày 08/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

6. Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người đựơc thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thu hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ