vanban.org

Bản án 05/2024/LĐ-ST — Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 26/01/2024 Lao động Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H về việc Tranh chấp về yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị H và Công ty Cổ phần C (thời gian làm việc từ tháng 12/2011 đến tháng 01/2012) vô hiệu. Án phí lao động sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí lao động sơ thẩm, được khấu trừ toàn bộ vào tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp — án lao động — "Nguyễn Thị H- Công ty cổ phần C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H về việc Tranh chấp về yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu.
  • Căn cứ chính? Điều 190 Bộ luật Lao động; Điều 127 Bộ luật Dân sự; Điều 132 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
—————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/LĐ-ST
Ngày: 26-01-2024
V/v Tranh chấp về yêu cầu tuyên bố
hợp đồng lao động vô hiệu

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Công.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Lệ Chi - Cán bộ hưu trí;

2. Bà Bùi Thị Thúy Lan – Cử nhân Luật, Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Long, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 150/2023/TLST-LĐ ngày 16 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp về yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2023/QĐXXST-LĐ ngày 10 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1990; thường trú: Xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; chỗ ở: Số D, tổ E, khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Công ty Cổ phần C; địa chỉ trụ sở: Lô C, đường số B, khu công nghiệp T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: Ông Ngô Trường B; chức vụ: Người đại diện theo pháp luật của Chi nhánh Công ty Cổ phần C, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 12/12/2023); có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1/ Bảo hiểm xã hội thành phố D; địa chỉ: khu T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: Ông Dương Văn T, sinh năm 1988; thường trú: Số A, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 22/11/2023); có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2/ Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1993; thường trú: Xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 27/10/2023, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị T1 là chị em ruột. Khoảng năm 2011, do bà T1 không đủ tuổi để ký hợp đồng lao động nên bà H có cho bà T1 mượn chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx do Công an tỉnh H cấp ngày 22/3/2008 để đủ điều kiện làm việc tại Công ty Cổ phần C, thời gian từ khoảng tháng 10/2011 đến tháng 01/2012, có ký kết hợp đồng lao động và được Công ty T2 với số bảo hiểm xã hội số 7411308515 mang tên Nguyễn Thị H. Trong khoảng thời gian đó bà H1 đang làm việc tại Công ty TNHH P, với công việc là công nhân may và được Công ty tham gia bảo hiểm xã hội với số bảo hiểm xã hội số 7409302662.

Hiện nay, bà Nguyễn Thị H đã nghỉ việc tại Công ty TNHH P và đang làm thủ tục rút bảo hiểm một lần nhưng nhận được thông báo số 10336.07406/2023/HDHS của Bảo hiểm xã hội thành phố D thông báo quá trình từ tháng 12/2011 đến tháng 01/2012 có trùng sổ BHXH. Nay, để bảo vệ quyền và lợi ích của bà H nên bà H khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị H và Công ty Cổ phần C, thời gian làm việc từ tháng 10/2011 đến tháng 01/2012 là vô hiệu do người ký kết hợp đồng không phải là bà H. Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 12/12/2023, lời khai trong quá trình tố tụng, người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày:

Thời điểm năm 2011, Công ty Cổ phần C có ký kết hợp đồng lao động với bà Nguyễn Thị H, sinh ngày 08/5/1990, số CMND xxxxxxxxx do Công an tỉnh H cấp ngày 22/3/2008; địa chỉ: xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, thời gian làm việc ngày 07/11/2011 đến ngày 16/01/2012, địa điểm làm việc tại số H Đại lộ Đ, khu công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Do thời gian làm việc ngắn, đã lâu và vào thời điểm bạo động ngày 13/5/2014 Công ty bị đốt phá nên hiện tại Công ty không còn lưu trữ hồ sơ lao động của bà Nguyễn Thị H. Trên hệ thống lưu trữ của Công ty thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, Công ty đã tham gia bảo hiểm xã hội cho bà Hệ từ tháng 11/2011 đến tháng 01/2012 theo sổ bảo hiểm xã hội số 7411308515. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Tại Bản tự khai ngày 22/11/2023 và lời khai trong quá trình tố tụng, người đại diện hợp pháp của Bảo hiểm xã hội thành phố D trình bày:

Qua đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) của Công ty Cổ phần C cho người lao động thì Công ty Cổ phần C có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1990, số chứng minh nhân dân xxxxxxxxx, với mã số BHXH 7411308515 từ tháng 12/2011 đến tháng 01/2012 chưa nhận trợ cấp BHXH và BHTN.

Công ty TNHH P có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1990, số chứng minh nhân dân xxxxxxxxx, với mã số BHXH 7409302662 từ tháng 01/2009 đến tháng 12/2021 chưa nhận trợ cấp BHXH và BHTN.

Về hợp đồng lao động, giấy tờ tùy thân của bà Nguyễn Thị H, BHXH không có lưu trữ những hồ sơ này.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Bảo hiểm xã hội thành phố D đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Tại Bản tự khai ngày 22/11/2023 và lời khai trong quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T1 trình bày:

Bà Nguyễn Thị T1 là em ruột bà Nguyễn Thị H. Khoảng tháng 11/2011 do bà T1 chưa đủ 18 tuổi nên không thể ký kết hợp đồng lao động để đi làm nên bà T1 có mượn chứng minh nhân dân của chị gái là bà Nguyễn Thị H để ký kết hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần C, được Công ty tham gia BHXH số 7411308515 (đứng tên sổ bà Nguyễn Thị H) nhưng thực tế bà T1 là người làm việc. Thời gian làm việc của bà T1 tại Công ty Cổ phần C từ ngày 07/11/2011 đến ngày 16/01/2012 thì nghỉ việc. Nay bà Nguyễn Thị H2 khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà H với Công ty Cổ phần C vô hiệu thì bà T1 đồng ý.

Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu ý kiến: Từ khi thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử đến khi tiến hành phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự, đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định, không vi phạm pháp luật tố tụng dân sự. Phát biểu quan điểm về nội dung vụ án: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn, người đại diện hợp pháp của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T1 và người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố D là ông Dương Văn T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.

[1.2] Về quan hệ tranh chấp và xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự trong vụ án: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H khởi kiện Công ty Cổ phần C, địa chỉ trụ sở: Lô C, đường số B, khu công nghiệp T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu.

Khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “3. Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm.”

Do đó Tòa án xác định bị đơn Công ty Cổ phần C. Tranh chấp trong vụ án là tranh chấp về yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An theo quy định tại khoản 5 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 50 Bộ luật Lao động năm 2019.

[1.3] Bị đơn trình bày hợp đồng lao động giữa Công ty Cổ phần C và bà Nguyễn Thị H đã chấm dứt từ năm 2012. Căn cứ khoản 3 Điều 190 Bộ luật lao động 2019 quy định “Thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm”. Tuy nhiên, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có yêu cầu xác định thời hiệu để giải quyết vụ án. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành thụ lý, giải quyết yêu cầu của bà H về việc tuyên hợp đồng lao động vô hiệu.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Quá trình tham gia bảo hiểm xã hội của người lao động Nguyễn Thị H như sau:

Mã số bảo hiểm xã hội 7411308515 từ tháng 12/2011 đến tháng 01/2012 tại Công ty Cổ phần C.

Mã số bảo hiểm xã hội 7409302662 từ tháng 01/2009 đến tháng 12/2021 tại Công ty TNHH P.

[2.2] Căn cứ dữ liệu bảo hiểm xã hội xác định được nguyên đơn và người lao động tên Nguyễn Thị H, sinh năm 1990, chứng minh nhân dân số: xxxxxxxxx, có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội như trên là một người. Quá trình tố tụng nguyên đơn thừa nhận không ký hợp đồng lao động và không làm việc tại Công ty Cổ phần C (cụ thể trong khoảng thời gian từ tháng 11/2011 đến tháng 01/2012) mà bà H cho em gái ruột là bà Nguyễn Thị T1 mượn chứng minh nhân dân và thông tin để ký hợp đồng lao động với Công ty, bà T1 thừa nhận do chưa đủ tuổi để ký kết hợp đồng lao động nên có mượn chứng minh nhân dân của chị gái là bà H để ký kết hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần C. Đồng thời, trong khoảng thời gian từ tháng 9/2009 đến tháng 12/2021, bà H có tham gia BHXH tại Công ty TNHH P bằng mã số BHXH 7409302662, đây cũng là mã số bảo hiểm xã hội bà H làm việc ở Công ty Cổ phần C. Như vậy, xác định được trong thời gian từ tháng 9/2009 đến tháng 12/2021 bà Nguyễn Thị H làm việc tại Công ty TNHH P, không ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty Cổ phần C. Việc bà Nguyễn Thị T1 sử dụng chứng minh nhân dân, thông tin của bà H để giao kết hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần C là hành vi lừa dối về mặt chủ thể khi xác lập giao dịch dân sự, vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau khi xác lập quan hệ lao động theo quy định tại Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994. Do đó việc bà Nguyễn Thị H yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị H với Công ty Cổ phần C là có căn cứ theo quy định tại Điều 127, Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005. Nguyên đơn chỉ yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, ngoài ra không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì trong vụ án. Đây là quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự theo quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự, do đó Tòa án không xem xét giải quyết về hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Sau khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.

[3] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên chấp nhận.

[4] Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H.

[5] Án phí lao động sơ thẩm: Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 5, 32, 35, 39, 147, 228, 229, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 127 và Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005;

Căn cứ Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994; Điều 50 và Điều 190 Bộ luật Lao động năm 2019;

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H về việc Tranh chấp về yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị H và Công ty Cổ phần C (thời gian làm việc từ tháng 12/2011 đến tháng 01/2012) vô hiệu.

2. Án phí lao động sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí lao động sơ thẩm, được khấu trừ toàn bộ vào tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001218 ngày 13/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An.

3. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ