- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xây dựng — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp hợp đồng kinh tế (Hợp đồng xây dựng)"
- Tòa quyết gì? tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 107 Luật Xây dựng; Điều 108 Luật Xây dựng; Điều 159 Bộ luật Dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2024/KDTM-ST Ngày: 22/01/2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng kinh tế (Hợp đồng xây dựng) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Hương
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chiến
Ông Đỗ Đắc Tiến
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm: Bà Lưu Thị Dáng
Hương - Kiểm sát viên.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân
dân quận Nam Từ Liêm.
Ngày 22/01/2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố
Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 60/2023/TLST- KDTM ngày 09 tháng 10 năm 2023 về việc: “Tranh chấp Hợp đồng kinh tế” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 209/2023/QĐST-KDTM ngày 08/12/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/QĐST-KDTM ngày 08/01/2024 giữa:
Nguyên đơn: Công ty TNHH xây dựng Samwoo Việt Nam (gọi tắt là
Công ty Samwoo Việt Nam)
Địa chỉ: Tầng 14, khối A toà nhà sông Đà, đường Phạm Hùng, phường Mỹ
Đình 2, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Lee Donghyeon - Chức vụ: Tổng giám đốc
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thái Việt. Theo giấy ủy quyền ngày
05/5/2023 của Tổng Giám đốc Công ty TNHH xây dựng Samwoo Việt Nam.
Bị đơn: Công ty cổ phần Sông Đà 9
Địa chỉ: Tòa nhà Sông Đà 9, TDP số 8, phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ
Liêm, Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Hải Sơn - Tổng giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Thế Anh. Theo giấy ủy quyền số
459CT/TCKT ngày 05/12/2023 của Tổng giám đốc Công ty cổ phần Sông Đà 9.
Đều có mặt.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết tại Tòa án, nguyên đơn
trình bày:
Ngày 17/06/2010, Công ty Samwoo Việt Nam ký kết Hợp đồng Xây Lắp số
14 CN/HĐXL/2010 với chi nhánh Sông Đà 902 thuộc Công ty CP Sông Đà 9 về việc: Thi công “Khoan, lắp đặt và bơm vữa neo mềm trong đất”, hạng mục: Tháp điều áp – Công trình thủy điện Hủa Na. Theo biên bản nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình xây dựng để đưa vào sử dụng, thời gian nghiệm thu kết thúc: ngày 24 tháng 05 năm 2011. Trong quá trình thực hiện hợp đồng chi nhánh Sông đà 902 đã thanh toán hơn 20 tỷ đồng. Đến nay giá trị còn lại phải thanh toán cho Công ty Samwoo Việt Nam là 1.050.763.774 đồng (Bằng chữ: Một tỷ không trăm năm mươi triệu, bảy trăm sáu mươi ba nghìn, bảy trăm bảy mươi tư đồng).
Ngày 11/06/2013 Công ty Samwoo Việt Nam đã gửi thư cho Chi nhánh Sông
Đà 9 thuộc Công ty CP Sông Đà về việc đề nghị thanh toán khoản nợ là 1.050.763.774 đồng (Bằng chữ: Một tỷ không trăm năm mươi triệu, bảy trăm sáu mươi ba nghìn, bảy trăm bảy mươi tư đồng) nhưng Công ty TNHH Xây dựng Samwoo Việt Nam không được phản hồi và chưa được trả khoản nợ này từ Chi nhánh Sông Đà 9 thuộc Công ty CP Sông Đà. Trong suốt thời gian sau đó Công ty Samwoo Việt Nam liên tục gửi thư đề nghị thanh toán cho Công ty CP Sông Đà. Ngày 20/01/2020 Công ty Samwoo Việt Nam gửi thư xác nhận, theo đó Công ty CP Sông Đà 9 thừa nhận còn nợ 1.050.763.774 đồng (Bằng chữ: Một tỷ không trăm năm mươi triệu, bảy trăm sáu mươi ba nghìn, bảy trăm bảy mươi tư đồng). Vì vậy, Công ty CP Sông Đà 9 có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Samwoo Việt Nam số tiền là: 1.050.763.774 đồng.
Ngoài ra, đối với khoản lãi chậm trả, tại Khoản 1 Điều 9 của Hợp đồng Xây
Lắp số 14 CN/HĐXL/2010 có quy định như sau: “... Nếu quá thời hạn thanh toán trên mà Bên A vẫn không thanh toán cho Bên B thì Bên A sẽ phải trả cho Bên B số tiền chậm thanh toán theo lãi suất do Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) công bố tại thời điểm chậm thanh toán”.
Theo công bố tại website của Vietcombank về lãi suất cho vay, có nội dung
như sau: “Chương trình An tâm lãi suất dành cho khách hàng cá nhân và khách hàng ổ chức bán lẻ có nhu cầu vay mua/xây sửa nhà/đất ở, vay sản xuất kinh doanh, vay mua ô tô, vay tiêu dùng có tài sản đảm bảo… với mức lãi suất cho vay cố định chỉ từ 9,5%/năm tại các kỳ hạn trung và dài hạn bao gồm: 18 tháng, 24 tháng; 36 tháng; 60 tháng; 84 tháng (07 năm) và lên tới 120 tháng (10 năm).”
Như vậy, có thể thấy việc Công ty Samwoo Việt Nam yêu cầu Công ty CP
Sông Đà 9 trả lãi ở mức 10%/ năm (theo nội dung đơn khởi kiện) là hoàn toàn có cơ sở.
Hiện tại, do Công ty CP Sông Đà 9 và Công ty Samwoo Việt Nam không đạt
được thỏa thuận về số tiền chậm trả cần thanh toán, nên Công ty Samwoo Việt Nam yêu cầu Công ty CP Sông Đà 9 có nghĩa vụ thanh toán tiền lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm thanh toán từ ngày nghiệm thu hoàn thành hạng mục đưa vào sử dụng (ngày 24/05/2011) cho đến ngày xét xử dự kiến, tuy nhiên, cũng do trao đổi với phía bị đơn là Công ty CP Sông Đà 9, hiện đang gặp đôi chút khó khăn về dòng tiền, vì vậy Công ty Samwoo Việt Nam yêu cầu Quý Tòa áp dụng mức lãi suất thấp hơn so với yêu cầu trong đơn khởi kiện, cụ thể là 9%/ năm, chi tiết tiền lãi như sau:
Ngày nghiệm thu
Ngày bắt đầu tính lãi Ngày xét xử dự kiến Tổng số ngày tính lãi hoàn thành hạng mục
phát sinh
đưa vào sử dụng
24/5/2011
25/5/2011
08/01/2024
4612
24/5/2011
25/5/2011
22/01/2024
4626
SỐ LÃI TẠM TÍNH DO CHẬM THANH TOÁN
Số tiền nợ gốc (VNĐ) Tỉ lệ lãi suất tính theo
Đến ngày
Tiền lãi tạm tính
ngày
(VNĐ)
(9%/năm)
1.050.763.774
0,00024658
08/01/2024
1.194.934.321
1.050.763.774
0,00024658
22/01/2024
1.198.561.616
Nay, Công ty Samwoo Việt Nam đề nghị Quý Tòa án giải quyết các yêu cầu
sau đây:
Buộc Công ty CP Sông Đà 9 thanh toán cho Công ty Samwoo Việt Nam số
tiền nợ gốc là: 1.050.763.774 đồng (Bằng chữ: Một tỷ không trăm năm mươi triệu, bảy trăm sáu mươi ba nghìn, bảy trăm bảy mươi tư đồng); và tiền nợ lãi là 1.198.561.616 đồng.
Tổng số tiền Công ty CP Sông Đà 9 phải thanh toán cho Công ty SamWoo
Việt Nam cả nợ gốc và nợ lãi tạm tính đến ngày xét xử 22/01/2024 là: 2.249.299.421 đồng.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
Ngày 17/06/2010, Công ty CP Sông Đà 9 ký kết Hợp đồng Xây Lắp số 14
CN/HĐXL/2010 với Công ty SAMWOO Việt Nam về việc: Thi công “Khoan, lắp đặt và bơm vữa neo mềm trong đất”, hạng mục: Tháp điều áp - Công trình thủy điện Hủa Na. Theo biên bản nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình xây dựng để đưa vào sử dụng, thời gian nghiệm thu kết thúc: ngày 24 tháng 05 năm 2011. Giữa bên phía Công ty CP Sông Đà 9 với Công ty Samwoo Việt Nam đến nay đã nghiệm thu xong.
Ngày 11/06/2013, Công ty CP Sông Đà 9 có nhận được thư nhắc nợ về việc
đề nghị thanh toán khoản nợ là 1.050.763.774 đồng (Bằng chữ: Một tỷ không trăm năm mươi triệu, bảy trăm sáu mươi ba nghìn, bảy trăm bảy mươi tư đồng). Nhưng do phía công ty cũng đang gặp khó khăn, đồng thời chưa nhận được tiền thanh toán của chủ đầu tư cho khoản tiền này. Dẫn đến khiến Công ty SAMWOO Việt Nam đã có đơn khởi kiện lên tòa án quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội để yêu cầu Tòa án buộc phía công ty CP Sông Đà 9 phải trả hết khoản nợ mà phía công ty đang nợ cho công ty SAMWOO Việt Nam với số tiền là 1.050.763.774 đồng (Bằng chữ: Một tỷ không trăm năm mươi triệu, bảy trăm sáu mươi ba nghìn, bảy trăm bảy mươi tư đồng).
Công ty CP Sông Đà 9 đề nghị phía Công ty SAMWOO Việt Nam không
yêu cầu trả tiền lãi và chấp nhận để công ty được thanh toán khoản nợ gốc trên thành từng 02 đợt như sau:
- Đợt 1: Trong tháng 12/2023 thanh toán: 500.000.000 (Năm trăm triệu
chẵn) đồng.
- Đợt 2: Trong tháng 01/2023 thanh toán số tiền còn lại: 550.763.774 (Năm
trăm năm mươi triệu bảy trăm sáu mươi ba nghìn bảy trăm bảy mươi tư) đồng.
Tuy nhiên, hai bên không thỏa thuận được, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án
theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn có ý kiến khác so với bản tự khai và Các Biên bản hòa giải. Tại phiên
tòa hôm nay bị đơn cho rằng nguyên đơn khởi kiện đã hết thời hiệu; Việc ký kết hợp đồng là do Chi nhánh không phải Tổng Công ty Sông Đà 9 ký kết trực tiếp với Công ty Sawoom Việt Nam; Tổng Công ty Sông Đà 9 chưa nhận được tiền của chủ đầu tư nên rất khó khăn và không có điều kiện trả nợ cho Công ty Samwoo Việt Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm phát biểu ý kiến:
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án,
Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
* Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
- Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy
đủ quy định tại điều 30, 35, 68, 97 Bộ luật tố tụng Dân sự.
* Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:
- Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về
việc xét xử sơ thẩm vụ án.
* Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong
quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
- Các đương sự đã chấp hành nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71, 72 BLTTDS.
2. Về đường lối giải quyết vụ án:
Xét Hợp đồng Xây Lắp số 14 CN/HĐXL/2010 về việc: Thi công “Khoan,
lắp đặt và bơm vữa neo mềm trong đất”, hạng mục: Tháp điều áp - Công trình thủy điện Hủa Na được ký kết ngày 17/6/2010 với chi nhánh Sông Đà 902 thuộc Công ty Cổ phần Sông Đà 9 và Công ty TNHH xây dựng Samwoo Việt Nam là tự nguyện, khách quan và đúng quy định của pháp luật. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty SamWoo đã hoàn thành các nghĩa vụ của mình theo biên bản nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình xây dựng để đưa vào sử dụng, thời gian nghiệm thu kết thúc: ngày 24/ 05/ 2011. Tuy nhiên, Công ty Sông Đà 9 chưa thanh toán số tiền còn thiếu theo hợp đồng, do vậy Ngày 11/06/2013 Công ty SamWoo đã gửi thư cho Chi nhánh Sông Đà 9 thuộc Công ty Cổ phần Sông Đà về việc đề nghị thanh toán khoản nợ là 1.050.763.774 đồng nhưng Công ty Samwoo không được phản hồi và chưa được trả khoản nợ này từ Công ty Sông Đà 9. Trong suốt thời gian sau đó Công ty Xây dựng Samwoo liên tục gửi thư đề nghị thanh toán cho Công ty Cổ phần Sông Đà. Ngày 20/01/2020, Công ty TNHH Xây dựng Samwoo Việt Nam gửi thư xác nhận, theo đó Công ty Cổ phần Sông Đà 9 thừa nhận còn nợ SamWoo số tiền là 1.050.763.774 đồng (Bằng chữ: Một tỷ không trăm năm mươi triệu, bảy trăm sáu mươi ba nghìn, bảy trăm bảy mươi tư đồng).
Căn cứ theo Điều 30 của Nghị định 99/2007/NĐ-CP về quản lý chi phí đầu tư
xây dựng công trình đã quy định về Quyết toán hợp đồng xây dựng “Bên giao thầu và Bên nhận thầu có trách nhiệm quyết toán hợp đồng xây dựng trong vòng 30 ngày sau khi bên nhận thầu hoàn thành các nghĩa vụ theo hợp đồng (trừ nghĩa vụ bảo hành công trình theo quy định) và đề nghị quyết toán hợp đồng”
Căn cứ theo Khoản 1 Điều 9 của Hợp đồng Xây Lắp số 14 CN/HĐXL/2010
quy định về thời hạn thanh toán: “Bên A sẽ thanh toán tiền cho bên B không quá 15 ngày kể từ ngày hai bên hoàn thành các thủ tục thanh toán và bên A nhận được tiền thanh toán khối lượng đó từ Chủ đầu tư…”
Căn cứ theo Thư xác nhận ngày 20/1/2022 của Công ty cổ phần Sông Đà 9
gửi Công ty TNHH Xây dựng SamWoo Việt Nam đã xác nhận số tiền nợ gốc cụ thể: “số tiền chúng tôi còn nợ Qúy vị: 1.050.763.774 VNĐ…”
Do vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán tiền
nợ gốc của hợp đồng xây lắp tổng số tiền: 1.050.763.774 đồng là có căn cứ và đúng theo quy định của pháp luật cần được chấp nhận.
Về việc yêu cầu trả số tiền lãi: Công ty SamWoo yêu cầu buộc công ty Sông
Đà 9 phải thanh toán số tiền lãi chậm trả tính đến ngày 08/1/2024 là: 1.194.934.321 đồng.
Căn cứ theo Khoản 1 Điều 476 Bộ luật dân sự 2005 quy định về Lãi Suất:
“Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”
Căn cứ theo khoản 1 Điều 9 của Hợp đồng Xây Lắp số 14 CN/HĐXL/2010
có quy định như sau:“... Nếu quá thời hạn thanh toán trên mà Bên A vẫn không thanh toán cho Bên B thì Bên A sẽ phải trả cho Bên B số tiền chậm thanh toán theo lãi suất do Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) công bố tại thời điểm chậm thanh toán”. Theo công bố tại Website của Vietcombank về lãi suất cho vay, lãi suất cố định chỉ từ 9,5%/năm tại các kỳ hạn trung và dài hạn.
Do vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán tiền
lãi chậm thanh toán với mức lãi suất 9%/năm của hợp đồng xây lắp với tổng số tiền lãi tạm tính đến ngày 08/1/2024: 1.194.934.321 đồng là có căn cứ
Đề nghị HĐXX:
Căn cứ Điều 389, 401, 402, Khoản 1 Điều 476 của Bộ luật dân sự 2005; Điều
107, 108 Luật Xây dựng 2003; Điều 30 của Nghị định 99/2007/NĐ-CP về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn: Buộc Công ty Cổ phần Sông Đà 9 phải thanh toán tiền còn nợ theo Hợp đồng xây lắp số 14 ngày 17/6/2010 và Thanh toán tiền lãi chậm trả do chậm thanh toán công nợ gốc tính đến ngày xét xử. Buộc bị đơn chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Đây là vụ án Tranh chấp hợp đồng kinh tế (Hợp đồng xây lắp). Bị đơn trong
vụ án là Công ty cổ phần Sông Đà 9 có địa chỉ tại Tòa nhà Sông Đà 9 đường Phạm Hùng, TDP số 8, phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội, nên Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 30; Khoản 1 Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác cho các đương sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã ra Quyết định yêu cầu cung cấp
chứng cứ yêu cầu bị đơn làm văn bản nêu ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cung cấp các tài liệu liên quan đến vụ án. Bị đơn đã có văn bản nêu ý kiến của mình. Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ do nguyên đơn cung cấp, do Tòa án thu thập và bản tự khai của nguyên đơn, bị đơn, Biên bản hòa giải làm căn cứ giải quyết vụ án.
Về nội dung:
* Xét luật nội dung áp dụng giải quyết vụ án:
Công ty TNHH Xây dựng Samwoo Việt Nam ký kết Hợp đồng Xây Lắp số
14 CN/HĐXL/2010 với Chi nhánh Sông Đà 902 thuộc Công ty CP Sông Đà 9 vào ngày 17/6/2010. Mục đích ký kết hợp đồng để thực hiện Thi công “Khoan, lắp đặt và bơm vữa neo mềm trong đất”, hạng mục: Tháp điều áp – Công trình thủy điện Hủa Na.
Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Bộ Luật dân sự năm 2005, Luật Xây dựng
2003 để giải quyết vụ án
*Về thời hiệu khởi kiện:
Theo tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp ngày 20/01/2022 bị đơn gửi thư
xác nhận, theo đó Công ty CP Sông Đà 9 xác nhận còn nợ Công ty SamWoo Việt Nam số tiền 1.050.763.774 đồng, vì vậy căn cứ Điều 159 Bộ luật dân sự 2005 yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ.
*Về việc ký kết hợp đồng kinh tế (Hợp đồng xây lắp):
Theo các tài liệu do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án:
Ngày 17/6/2010, Công ty SamWoo Việt Nam và Chi nhánh Sông Đà 902
thuộc Công ty CP Sông Đà 9 ký kết Hợp đồng xây lắp Hợp đồng Xây Lắp số 14 CN/HĐXL/2010 về việc: Thi công “Khoan, lắp đặt và bơm vữa neo mềm trong đất”, hạng mục: Tháp điều áp - Công trình thủy điện Hủa Na.
Xét nội dung của hợp đồng xây lắp không vi phạm điều cấm của pháp luật,
phù hợp với nhu nhu cầu của các bên. Thời điểm ký kết Hợp đồng các bên hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với các quy định của pháp luật nên có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành đối với các bên. Do đó căn cứ Điều 389, 401, 402 Bộ luật dân sự 2005, Điều 107, 108 Luật Xây dựng 2003. Hội đồng xét xử công nhận hợp đồng kinh tế (Hợp đồng xây lắp) giữa Công ty SamWoo Việt Nam và Công ty CP Sông Đà 9 là có thật và hợp pháp.
* Về việc yêu cầu trả số tiền nợ gốc:
Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty SamWoo đã hoàn thành các nghĩa vụ
của mình theo biên bản nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình xây dựng để đưa vào sử dụng, thời gian nghiệm thu kết thúc: ngày 24/05/2011. Tuy nhiên, Công ty Sông Đà 9 chưa thanh toán số tiền còn thiếu theo hợp đồng, do vậy ngày 11/06/2013 Công ty SamWoo đã gửi thư cho Chi nhánh Sông Đà 902 thuộc Công ty CP Sông Đà 9 về việc đề nghị thanh toán khoản nợ gốc là 1.050.763.774 đồng nhưng không có kết quả. Trong suốt thời gian sau đó Công ty Samwoo Việt Nam liên tục gửi thư đề nghị Công ty CP Sông Đà 9 thanh toán. Ngày 20/01/2022, Công ty Samwoo Việt Nam gửi thư xác nhận, theo đó Công ty CP Sông Đà 9 xác nhận còn nợ Công ty SamWoo số tiền là 1.050.763.774 đồng (Một tỷ không trăm năm mươi triệu, bảy trăm sáu mươi ba nghìn, bảy trăm bảy mươi tư đồng).
Căn cứ theo Điều 30 của Nghị định 99/2007/NĐ-CP về quản lý chi phí đầu tư
xây dựng công trình đã quy định về Quyết toán hợp đồng xây dựng “Bên giao thầu và Bên nhận thầu có trách nhiệm quyết toán hợp đồng xây dựng trong vòng 30 ngày sau khi bên nhận thầu hoàn thành các nghĩa vụ theo hợp đồng (trừ nghĩa vụ bảo hành công trình theo quy định) và đề nghị quyết toán hợp đồng”
Căn cứ theo Khoản 1 Điều 9 của Hợp đồng Xây Lắp số 14 CN/HĐXL/2010
quy định về thời hạn thanh toán: “Bên A sẽ thanh toán tiền cho bên B không quá 15 ngày kể từ ngày hai bên hoàn thành các thủ tục thanh toán và bên A nhận được tiền thanh toán khối lượng đó từ Chủ đầu tư…”
Căn cứ theo Thư xác nhận ngày 20/01/2022 của Công ty CP Sông Đà 9 gửi
Công ty SamWoo Việt Nam đã xác nhận số tiền nợ gốc cụ thể: “số tiền chúng tôi còn nợ Qúy vị là: 1.050.763.774 VNĐ…”
Do vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán tiền
nợ gốc của Hợp đồng xây lắp với tổng số tiền 1.050.763.774 đồng là có căn cứ và đúng theo quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.
*Về việc yêu cầu trả số tiền lãi:
Căn cứ theo Khoản 1 Điều 476 Bộ luật dân sự 2005 quy định về Lãi Suất:
“Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”
Căn cứ theo khoản 1 Điều 9 của Hợp đồng Xây Lắp số 14 CN/HĐXL/2010
có quy định như sau:“... Nếu quá thời hạn thanh toán trên mà Bên A vẫn không thanh toán cho Bên B thì Bên A sẽ phải trả cho Bên B số tiền chậm thanh toán theo lãi suất do Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) công bố tại thời điểm chậm thanh toán”. Theo công bố tại Website của Vietcombank về lãi suất cho vay, lãi suất cố định chỉ từ 9,5%/năm tại các kỳ hạn trung và dài hạn.
Do vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán tiền
lãi chậm thanh toán với mức lãi suất 0,9%/năm của hợp đồng xây lắp với tổng số tiền lãi tạm tính đến ngày 22/01/2024, cụ thể là: 1.050.763.774 đồng x 0,9%x 4626 ngày (từ ngày 25/5/2011 đến ngày 22/01/2024) = 1.198.561.616 đồng là có căn cứ và đúng theo quy định của pháp luật cần được chấp nhận.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án kinh doanh thương mại sơ thẩm. Nguyên đơn
không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
Khoản 1 Điều 30, Khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 227; 271; 273 Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015;
Điều Điều 389, 401, 402, Khoản 1 Điều 476 Bộ luật dân sự 2005;
Điều 107, 108 Luật Xây dựng 2003;
Điều 30 của Nghị định 99/2007/NĐ-CP về quản lý chi phí đầu tư xây dựng
công trình.
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Xây dựng SamWoo Việt
Nam đối với Công ty cổ phần Sông Đà 9
2. Buộc Công ty cổ phần Sông Đà 9 trả cho Công ty TNHH Xây dựng
SamWoo Việt Nam số tiền nợ tạm tính đến ngày xét xử 22/01/2024, theo Hợp đồng Xây Lắp số 14 CN/HĐXL/2010 ngày 17/06/2010. Tổng số tiền là: 2.249.299.421 đồng (Hai tỷ hai trăm bốn mươi chín triệu hai trăm chín mươi chín nghìn bốn trăm hai mươi mốt đồng). Trong đó:
Nợ gốc: 1.050.763.774 đồng
Nợ lãi: 1.198.561.616 đồng
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì người phải
thi hành án còn phải chịu lãi suất đối với khoản tiền chưa thi hành án theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí:
Công ty cổ phần Sông Đà 9 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm
là 76.913.962 đồng.
Công ty SamWoo Việt Nam không phải chịu án phí kinh doanh thương mại
sơ thẩm. Hoàn trả cho Công ty SamWoo số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 24.814.429 đồng theo biên lai số 0035620 ngày 09/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án
trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận : - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND thành phố Hà Nội; - VKSND quận Nam Từ Liêm; - Chi cục THADS quận Nam Từ Liêm; - Các đương sự; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Mai Thị Hương |