vanban.org

Bản án 05/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương Tuyên án 16/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.

Xử phạt bị cáo Phạm Thị K 12 (Mƣời hai) tháng tù cho hƣởng án treo, thử thách 24 (Hai mƣơi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Phạm Thị K cho UBND xã Cao Minh, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị K - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/HS-ST
Ngày: 16/01/2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Đàm Nhân Trác.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng

Bà Nguyễn Thị Hoan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Anh -Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2024/HSST ngày 04/01/2024, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Thị K, sinh năm 1979; Nơi cƣ trú: Thôn 12, xã Cao M, huyện Vĩnh BTP Hải Phòng; Trình độ văn hoá: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Trần X và bà Phạm Thị K(đều đã chết); Có chồng là Nguyễn Quang Trung và 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú, có mặt.

- Người bị hại: Bà Lê Thị V, sinh năm 1960; Địa chỉ: Thôn An Phú, xã Nguyên Giáp, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng (đã chết)

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại:

+ Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1955;

+ Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 2001;

+ Chị Lê Thị Thu H, sinh năm 1986;

Đều ở địa chỉ: Thôn An Phú, xã Nguyên Giáp, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

+ Chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn An Tứ, xã Quang Trung, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

+ Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1994; Địa chỉ: Phố Quý Cao, xã Nguyên Giáp, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

- Người đại diện theo ủy quyền của ông Thể, anh Đức, chị Giang, chị Nga: Chị Lê Thị Thu H, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn An Phú, xã Nguyên Giáp, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

- Người làm chứng:

+ Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn An Biên, xã Hƣng Nhân, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

+ Anh Phạm Trung K, sinh năm 1997; Địa chỉ: Thôn 12, xã Cao M, huyện Vĩnh Bthành phố Hải Phòng.

+ Ông Phạm Hữu T, sinh năm 1965; Địa chỉ: Phố Quý Cao, xã Nguyên Giáp, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

+ Anh Trần Văn H, sinh năm 1986; Địa chỉ: Phố Quý Cao, xã Nguyên Giáp, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

( Đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Phạm Thị K làm nghề thổi kèn đám hiếu, có Giấy phép lái xe hạng A1 do Sở giao thông vận tải TP Hải Phòng cấp ngày 16/01/2020. Sáng ngày 09/8/2023, Phạm Thị K điều khiển xe mô tô BKS 15B2-281.45 chở chị Nguyễn Thị T đi từ huyện Lƣơng Tài, tỉnh Bắc Ninh để về nhà. Khoảng 09 giờ 40 phút cùng ngày khi đến Km 29+059 đƣờng 391 thuộc địa phận phố Quý Cao, xã Nguyên Giáp, đây là đoạn đƣờng trải thảm nhựa thẳng, phẳng không bị khuất tầm nhìn, mật độ giao thông thƣa, lòng đƣờng rộng 930cm chia thành hai chiều xe chạy bằng vạch sơn màu vàng nét đứt đoạn rộng 15cm; phần đƣờng bên phải hƣớng Hải Dƣơng -Quý Cao rộng 430cm. Đây là đoạn đƣờng giao nhau với đƣờng liên thôn (đi ra chợ Quý Cao) ở bên phải, có biển cảnh báo nguy hiểm “Đi chậm”. Lúc này Khuyên điều khiển xe máy với tốc độ khoảng 40km/h tại phần đƣờng bên phải theo hƣớng Hải Dƣơng - Quý Cao cách lề đƣờng bên phải khoảng 01m, cùng lúc này phía trƣớc có bà Lê Thị V điều khiển xe máy điện chở bao tải hàng ở yên xe phía sau và khu vực để chân phía trƣớc từ ngõ bên phải theo chiều di chuyển của Khuyên ra đƣờng tỉnh lộ 391, đi chếch chéo sang làn đƣờng bên trái hƣớng Quý Cao - Hải Dƣơng (ngƣợc chiều di chuyển của Khuyên). Khi Khuyên phát hiện bà Vinh, Khuyên đánh lái sang trái, điều khiển xe máy đi ra phần giữa đƣờng để tránh, bà Vinh vẫn tiếp tục điều khiển xe máy điện đi chếch chéo để sang đƣờng. Do Khuyên không làm chủ tốc độ, không giảm tốc độ nơi có biển báo đi chậm và không đi về bên phải theo chiều đi của mình dẫn đến phần bánh trƣớc xe máy do Khuyên điều khiển va chạm vào thân xe bên trái xe máy điện do bà Vinh điều khiển, làm xe máy điện và xe mô tô đổ trƣợt rê về hƣớng Quý Cao, tạo vết cày mặt đƣờng không liên tục, kích thƣớc (120 x 0,2)cm; đầu vết, cuối vết lần lƣợt cách mép đƣờng 360cm và 330cm và vết cày trƣợt mặt đƣờng không liên tục kích thƣớc (300 x 01x 0,2)cm, đầu vết, cuối vết lần lƣợt cách mép đƣờng 405cm và 480cm. Sau tai nạn, bà Vinh bị thƣơng nặng đƣợc đƣa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dƣơng từ ngày 09/8/2023 đến ngày 11/8/2023 do tiên lƣợng xấu, gia đình xin ra viện. Ngày 11/8/2023 bà Vinh tử vong tại nhà. Khuyên và chị Thoa bị thƣơng nhẹ, hai phƣơng tiện bị hƣ hỏng nhẹ.

Tại Bản kết luận giám định tử thi qua hồ sơ số 12/KLTTHS ngày 17/9/2023 của Trung tâm pháp y - Sở y tế Hải Dƣơng kết luận nguyên nhân bà Vinh chết Chấn thƣơng sọ não gây tụ máu dƣới màng cứng, chảy máu màng mềm, dập não, vỡ xƣơng thái dƣơng phải, cánh lớn xƣơng bƣớm và thành ngoài xƣơng bƣớm phải, vỡ xƣơng chẩm phải. Đƣợc điều trị, hồi sức tích cực, không hồi phục.

Các tổn thƣơng trên có đặc điểm do vật tày gây ra, bà Vinh bị va chạm tai nạn giao thông gây ra là phù hợp

Sau khi gây tai nạn, Phạm Thị K cùng gia đình đã bồi thƣờng cho gia đình bà Lê Thị V số tiền 140.000.000 đồng. Đại diện gia đình bà Vinh đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu bồi thƣờng gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Khuyên.

Tại bản Cáo trạng số 05/CT-VKSTK ngày 03/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo Phạm Thị K ra trƣớc toà để xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên toà: VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1,2 Điều 65 BLHS. Tuyên bố bị cáo Phạm Thị K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”; xử phạt Phạm Thị K từ 09 đến 12 tháng tù cho hƣởng án treo, thử thách 18 đến 24 tháng tình từ ngày tuyên án; Về trách nhiệm dân sự: Không phải giải quyết; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Phạm Thị K đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ngƣời đại diện hợp pháp cho bị hại đã ủy quyền cho chị Lê Thị Thu H tham gia tố tụng, chị Hà không yêu cầu bồi thƣờng gì thêm về trách nhiệm dân sự, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của nhân chứng, biên bản khám nghiệm hiện trƣờng, biên bản khám nghiệm phƣơng tiện, kết luận giám định của Trung tâm pháp y –Sở y tế Hải Dƣơng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 40 phút, ngày 09/8/2023, tại km 29 + 059 đƣờng tỉnh lộ 391, thuộc địa phận xã Nguyên Giáp, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, Phạm Thị K điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 15B2-281.45 đi hƣớng Hải Dƣơng - Quý Cao, do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi có biển cảnh báo nguy hiểm, không đi đúng phần đƣờng quy định, đã xảy ra va chạm với xe máy điện do bà Lê Thị V điều khiển đang đi từ ngõ bên phải đƣờng hƣớng Hải Dƣơng - Quý Cao ra đƣờng 391 ngƣợc chiều để sang đƣờng, hậu quả làm bà Vinh ngã ra, đầu đập xuống mặt đƣờng, gây chấn thƣơng sọ não, sao đó tử vong tại nhà ngày 11/8/2023.

Bị cáo là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, mặc dù bị cáo có giấy phép lái xe theo quy định nhƣng khi tham gia giao thông bị cáo đã không chú ý quan sát, không giảm tốc độ, vi phạm quy định tại khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đƣờng bộ; khoản 1 Điều 5 Thông tƣ số 31/2019/TT ngày 28/9/2019 của Bộ GTVT, hậu quả đã gây tai nạn, làm 1 ngƣời chết, nên đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS. VKSND huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo ra trƣớc toà để xét xử với tội danh trên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ, sự hoạt động bình thƣờng của các phƣơng tiện giao thông, gây thiệt hại đến tính mạng của ngƣời khác nên cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có bố đẻ là ông Phạm Trần Xuyên đã có công trong cuộc kháng chiến chống mỹ, bị cáo và gia đình đã bồi thƣờng cho gia đình ngƣời bị hại, đại diện gia đình ngƣời bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Trong vụ án này ngƣời bị hại cũng có một phần lỗi, không chú ý quan sát khi sang đƣờng. Vì vậy, HĐXX sẽ xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, không cần cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phƣơng cũng có tác dụng giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi gây tai nạn, bị cáo cùng gia đình đã bồi thƣờng cho gia đình ngƣời bị hại số tiền 140.000.000 đồng. Chị Lê Thị Thu H là ngƣời đại diện theo uỷ quyền đã nhận đủ số tiền trên không yêu cầu bồi thƣờng gì thêm về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra giải quyết.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo sử dụng xe làm phƣơng tiện đi lại nên không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm bị cáo hành nghề lái xe sau khi chấp hành xong hình phạt tù.

Về vật chứng: Đối với xe mô tô BKS 15B2-281.45 loại Honda Wave màu trắng, ngày 09/10/2023 cơ quan Công an huyện Tứ Kỳ đã trả lại cho anh Phạm Trung K và xe máy điện không biển kiểm soát, cơ quan Công an huyện Tứ Kỳ đã trả lại cho chị Lê Thị Thu H là ngƣời đại diện theo uỷ quyền của ông Thể, anh Đức, chị Giang, chị Nga. Anh Khang và chị Hà không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự.

Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 BLHS.

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.

Xử phạt bị cáo Phạm Thị K 12 (Mƣời hai) tháng tù cho hƣởng án treo, thử thách 24 (Hai mƣơi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Phạm Thị K cho UBND xã Cao Minh, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án; Bị cáo Phạm Thị K phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; ngƣời đại diện hợp pháp cho ngƣời bị hại vắng mặt tại phiên toà đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.

Cỡ chữ