vanban.org

Bản án 05/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 26/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Thanh D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Trần Thanh D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính t ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh Dương - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thanh D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẾN CẦU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/HS-ST.
Ngày 26-01-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vui.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Hồng Vân;

2. Ông Nguyễn Văn Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tươi – Thư T a án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đ i di n Vi n ki m s t nh n d n hu n n Cầu t nh T Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đình Lưỡng – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở T a án nhân dân huyện Bến Cầu, xét xử sơ thẩm công hai vụ án hình sự sơ thẩm thụ l số: 114/2023/TLST-HS ngày 12-12-2023 đối với bị cáo:

Trần Thanh D, sinh năm 1983, tại tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng nhân hẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp R, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Làm mướn; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Cao Đài; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn H và bà Hồ Thị H1 (chết); Em ruột: 02 người; Vợ: Trương Ngọc H2 (đã ly hôn); Con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không có; Nhân thân: Ngày 15/7/2011 bị Công an huyện B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh nhau”. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn ch n cấm đi hỏi nơi cư trú t ngày 22/11/2023. Bị cáo có m t.

- Bị hại: Ông Trần Văn P, sinh năm: 1948 (chết). Địa chỉ: Ấp N, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện hợp pháp của ông P: Ông Trần Ngọc Đ; ông Trần Thanh L; bà Trần Thị N; ông Trần Thanh P1; bà Trần Ngọc M; bà Trần Ngọc L1; ông Trần Thành T; bà Trần Ngọc G; ông Trần Thanh T1 và ông Trần Đức T2.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Thanh T1, sinh năm: 1982. Địa chỉ: Ấp N, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh. (Vắng m t).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1986. Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh. (Có m t).

2. Ông Phó Tiến Đ1, sinh năm: 1998. Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh. (Vắng m t).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 06 giờ 00 phút ngày 24/9/2023, Trần Thanh D điều hiển xe mô tô hông biển số éo theo thùng lôi tự chế đi t hướng xã L, huyện B đến xã T, huyện B. Khi đi đến hu vực ngã tư giao nhau giữa đường T và đường liên ấp xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh thì D đỗ xe tại ngã tư để giao nước đá. Lúc này, ông Trần Văn P, sinh năm 1948, ngụ ấp N, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh điều hiển xe mô tô biển số 70C1-210.58 lưu thông cùng hướng t phía sau đến va chạm vào bánh xe bên trái thùng lôi của D ngã ra đường, đầu va vào bánh xe sau bên phải xe ô tô tải biển số 70C-071.88 do Nguyễn Văn T3, sinh năm 1986, ngụ ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh điều hiển lưu thông t ấp X, xã T ra đường T về hướng thị trấn B, huyện B (xe đã quay về hướng thị trấn B). Ông P bị thương tích được đưa đến Bệnh viện Đ2, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cứu, đến chiều cùng ngày ông P chết.

Quá trình điều tra, xác định Trần Thanh D hông có giấy phép lái xe mô tô, điều hiển xe mô tô hông biển số éo theo thùng lôi tự chế đỗ xe tại ngã tư nơi đường bộ giao nhau dẫn đến việc ông Trần Văn P điều hiển xe va chạm vào bánh xe bên trái hướng đi thùng xe lôi gây tai nạn giao thông. Hậu quả: Ông P tử vong.

Hiện trường xảy ra trên đường 786A hu vực gần ngã tư chợ T4, thuộc ấp R, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Đoạn đường t Ủy ban nhân dân xã L đến trụ điện số 160 về hướng trị trấn B m t đường trải nhựa bằng phẳng, rộng 8,3 mét hông có vạch phân tuyến ở giữa; lấy trụ điện số 160 làm mốc và lề đường bên phải theo hướng xã L đi thị trấn B làm chuẩn để đo đạc, nữa m t đường vào lề chuẩn 4,15 mét và giao nhau với đường liên ấp đi ấp B, xã T rộng 15,9 mét và đường liên ấp đi ấp R, xã T rộng 10,3 mét.

- Hướng đi t xã L về hướng thị trấn B có một biển báo chợ, cách biển báo chợ 27,5 mét có một biển báo bắt đầu hu đông dân cư, cách biển báo bắt đầu hu đông dân cư 46,7 mét có một biển báo đường giao nhau với đường hông ưu tiên.

- Trục bánh xe bên phải thùng lôi tự chế hông biển số cách lề chuẩn 0,4 mét, cách tâm phần đường giao nhau giữa đường 786 và đường đi liên ấp R là 1,5 mét, cách biển báo giao nhau với đường hông ưu tiên là 37,1 mét; Trục bên trái cách lề chuẩn 0,65 mét, thùng lôi có ích thước 0,9 mét x 2,1 mét. Cách trụ điện số 160 về hướng thị trấn B 10,3 mét. Thùng lôi được gắn vào xe mô tô hông biển số đầu xe hướng thị trấn B, trục bánh xe sau ở phần đường liên ấp đi ấp R cách lề chuẩn 1,3 mét, trục bánh xe trước nằm trên lề chuẩn cách phần lề giao nhau giữa đường 786 và đường đi liên ấp R là 2,05 mét.

+ Tại ết luận giám định pháp y về tử thi số: 173/KLGĐTT-TTPYTN ngày 23/10/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T ết luận: Nguyên nhân chết của ông Trần Văn P là chấn thương sọ não/ đa chấn thương.

+ Tại ết luận giám định số 1510/KL-KTHS ngày 08/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh T ết luận:

- Mẫu máu ghi thu của Trần Thanh D, sinh năm 1983, ngụ ấp R, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh hông có nồng độ cồn trong máu.

- Mẫu máu ghi thu của Trần Văn P, sinh năm 1948, ngụ ấp N, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh hông có nồng độ cồn trong máu.

- Mẫu máu ghi thu của Nguyễn Văn T3, sinh năm 1986, ngụ ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh hông có nồng độ cồn trong máu.

+ Tại ết luận giám định số 1511/KL-KTHS ngày 05/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh T ết luận: 01 (một) “GIẤY PHÉP LÁI XE” Số/No: 720072002581, Họ tên: NGUYỄN VĂN TÓT; Ngày sinh: 18/01/1986; Nơi cư trú: X. T, H. B, T. T, ngày 29 tháng 09 năm 2021 cần giám định là thật.

+ Xe mô tô hông biển số do Nguyễn Thanh D1 điều hiển éo theo thùng lôi tự chế có ết quả theo Kết luận giám định số 1512/KL-KTHS ngày 03/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh T ết luận: Số hung bị đục xóa hông xác định được số nguyên thủy, số máy hông bị đục xóa.

+ Tại ết luận giám định số 6950/KL/KTHS ngày 10/11/2023 của Phân viện ỹ thuật hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh - Bộ C ết luận: Dung tích xi-lanh của xe mô tô hông biển số, số máy: LC152FMH 01120090, số hung bị đục xóa gửi giám định được xác định theo phương pháp tính toán là 107 cm³.

* Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Thanh T1 đã nhận số tiền t bị cáo Trần Thanh D 20.000.000 đồng, ông Nguyễn Văn T3 (tài xế xe ô tô) số tiền 40.000.000 đồng và Phó Tiến Đạt (chủ xe ô tô) số tiền 40.000.000 đồng. Ông Trần Thanh T1 hông yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn bãi nại hông yêu cầu xử l hình sự đối với Trần Thanh D.

Kết quả thu giữ và xử l vật chứng:

- 01 xe mô tô hông biển số, số máy: 01120090, số hung: hông tìm thấy (đã qua sử dụng) và 01 thùng lôi tự chế (đã qua sử dụng);

- 01 xe mô tô biển số 70C1-210.58, số hung: RLHJA390XHY07642, số máy: JA39E0070667 (đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn giao thông).

Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Cầu theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/12/2023.

Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKSBC ngày 11-12-2023 của Viện iểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Trần Thanh D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a hoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện iểm sát giữ quyền công tố tại phiên t a vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Thanh D, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a hoản 2 Điều 260; điểm b, s hoản 1 Điều 51, Điều 38 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thanh D t 18 tháng đến 24 tháng tù. Đồng thời xử l vật chứng theo quy định của pháp luật.

Ghi nhận ông Trần Thanh T1 đã nhận số tiền bồi thường t bị cáo Trần Thanh D 20.000.000 đồng, ông Nguyễn Văn T3 số tiền 40.000.000 đồng vàông Phó Tiến Đạt số tiền 40.000.000 đồng, hông yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

iến người đại diện hợp pháp của bị hại: Đã nhận tiền bồi thường thiệt hại là 100.000.000 đồng, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và hông yêu cầu bồi thường gì thêm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật dẫn đến hậu quả nghiêm trọng và đã ăn năn hối cải nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện iểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên t a bị cáo và người tham gia tố tụng hác hông có iến ho c hiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện: Vào lúc 06 giờ 00 phút ngày 24/9/2023, tại hu vực ngã tư giao nhau giữa đường T và đường liên ấp xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Bị cáo Trần Thanh D hông có giấy phép lái xe mô tô, nhưng vẫn điều hiển xe mô tô hông biển số éo theo thùng lôi tự chế đỗ xe tại ngã tư nơi đường bộ giao nhau làm cản trở lưu thông dẫn đến việc ông Trần Văn P điều hiển xe va chạm vào bánh xe bên trái hướng đi thùng xe lôi gây tai nạn giao thông. Hậu quả làm ông P chết.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã vi phạm hoản 9 Điều 8; điểm e hoản 4 Điều 18 của Luật giao thông đường bộ, gây thiệt hại tính mạng của người hác, xâm phạm đến an toàn trật tự công cộng nên phải chịu trách nhiệm hình sự. Lời hai của bị cáo tại phiên t a phù hợp với những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên t a, phù hợp với lời trình bày của những người tham gia tố tụng hác. Do đó, hành vi của bị cáo đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a hoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, bị cáo với lỗi vô , bị cáo hông lường trước được việc bị cáo vi phạm giao thông gây hậu quả làm chết người, gây mất an toàn trật tự công cộng tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục răn đe bị cáo và ph ng ng a tội phạm.

Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo như sau:

Tình tiết tăng n ng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Sau hi phạm tội bị cáo thành hẩn hai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện hắc phục hậu quả bồi thường cho gia đình bị hại và gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s hoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 15/7/2011 bị Công an huyện B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh nhau” nên cần xem xét hi quyết định hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận người đại diện hợp pháp của bị hại ông Trần Thanh T1 đã nhận bồi thường số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng (trong đó: bị cáo 20.000.000 đồng, ông Nguyễn Văn T3 40.000.000 đồng và ông P2 Tiến Đạt 40.000.000 đồng) và hông yêu cầu bồi thường gì thêm.

Về xử l vật chứng:

Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 70C1-210.58, số hung: RLHJA390XHY07642, số máy: JA39E0070667 (đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn giao thông) là của bị hại ông Trần Văn P nên cần trả lại cho người đại diện theo ủy quyền của bị hại là ông Trần Thanh T1.

Đối với 01 (một) xe mô tô hông biển số, số máy: 01120090, số hung: hông tìm thấy (đã qua sử dụng) và 01 thùng lôi tự chế (đã qua sử dụng), Công an đã truy tìm chủ sở hữu nhưng hông có ết quả nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Đối với Nguyễn Văn T3 điều hiển xe ô tô tải biển số 70C-071.88 đi đúng phần đường, hông có sự việc phạm tội nên hông xử l .

Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên t a là có căn cứ, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Do Hội đồng xét xử ết luận bị cáo có tội và bị ết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm a hoản 2 Điều 260; điểm b, s hoản 1, 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Trần Thanh D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Trần Thanh D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính t ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

2. Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

2.1. Ghi nhận người đại diện hợp pháp của bị hại ông Trần Thanh T1 đã nhận bồi thường số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng (trong đó: bị cáo 20.000.000 đồng, ông Nguyễn Văn T3 40.000.000 đồng và ông P2 Tiến Đạt 40.000.000 đồng) và hông yêu cầu bồi thường gì thêm.

2.2. Trả lại cho người đại diện theo ủy quyền của bị hại là ông Trần Thanh T1 01 (một) xe mô tô biển số 70C1-210.58, số hung: RLHJA390XHY07642, số máy: JA39E0070667 (đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn giao thông).

2.3. Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô hông biển số, số máy: 01120090, số hung: hông tìm thấy (đã qua sử dụng) và 01 (một) thùng lôi tự chế (đã qua sử dụng).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 12 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Cầu).

3. Án phí:

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Buộc bị cáo Trần Thanh D phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày ể t ngày tuyên án, bị cáo có quyền háng cáo theo trình tự thủ tục phúc thẩm lên T a án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Riêng đương sự vắng m t có quyền háng cáo trong thời hạn 15 ngày ể t ngày nhận được bản án ho c bản án niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM HỘI Đ NG X T X

TH M N i nhận:

Th m ph n – Ch t a phiên tòa

- Ph ng KTNV&THA.TAND tỉnh;

- VKSND cùng cấp;

- VKSND tỉnh;

- Cơ quan THAHS có thẩm quyền;

- Nhà tạm giữ-CQCSĐT.Công an huyện;

- Chi cục THADS huyện;

- Ph ng l lịch Sở Tư pháp tỉnh;

Nguyễn Thị Vui

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ;

- Lưu tập án.

Cỡ chữ