vanban.org

Bản án 05/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị Diệu A.

1. Về hôn nhân: Bà Đặng Thị Diệu A được ly hôn ông Phan Văn Đ. 2. Về con chung: Giao hai con chung tên Phan Như Qu, sinh ngày 27/9/2017 và Phan Minh Kh, sinh ngày 03/01/2019 cho bà Đặng Thị Diệu A trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Ông Phan Văn Đ không phải cấp dưỡng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị Diệu A.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 24/01/2024
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quốc Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Chung

2. Bà Lê Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Gia Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Thảo– Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 684/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 163/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Diệu A, sinh năm 1987

Nơi ĐKNKTT: Thôn Phước Thuận, xã Đ, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa

Chỗ ở hiện nay: Thôn Phước Lộc, xã Q, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Phan Văn Đ, sinh năm 1988

Nơi cư trú: Thôn Phước Thuận, xã Đ, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đặng Thị Diệu A trình bày:

Bà và ông Phan Văn Đ kết hôn năm 2017 và đã được Ủy ban nhân dân xã Đ, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn số 37/2017 ngày 02/11/2017. Qua quá trình chung sống ông bà có với nhau hai con chung là Phan Như Qu, sinh ngày 27/9/2017 và Phan Minh Kh, sinh ngày 03/01/2019. Cuộc sống hôn nhân của hai vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc nhưng đến đầu năm 2018 phát sinh mâu thuẫn do tính tình hai bên không hợp nhau, mâu thuẫn về tiền bạc, không tìm được tiếng nói chung nên dẫn đến vợ chồng xô xát, xúc phạm đến danh dự và lòng tự trọng của nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Phan Văn Đ.

Về con chung: Bà tự nguyện trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng 02 con chung là Phan Như Qu, sinh ngày 27/9/2017 và Phan Minh Kh, sinh ngày 03/01/2019 đến tuổi trưởng thành. Bà không yêu cầu ông Phan Văn Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà xác định không có tài sản chung và nợ chung với ông Đ.

Bị đơn ông Phan Văn Đ đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã chấp hành đúng và đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn không chấp hành nhưng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ, công khai đảm bảo quyền lợi hợp pháp. Căn cứ vào Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn; về con chung: Giao 02 con chung là Phan Như Qu, sinh ngày 27/9/2017 và Phan Minh Kh, sinh ngày 03/01/2019 cho bà Đặng Thị Diệu A trực tiếp nuôi dưỡng. Bà A không yêu cầu ông Phan Văn Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; về tài sản chung và nợ chung: Bà A xác định không có tài sản chung và nợ chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 15/01/2024, nguyên đơn bà Đặng Thị Diệu A có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn là ông Phan Văn Đ đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với bị đơn ông Phan Văn Đ hiện cư trú tại: Thôn Phước Thuận, xã Đ, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa nên quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là tranh chấp về quan hệ hôn nhân và gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã N theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị Diệu A và ông Phan Văn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 37/2017 ngày 02/11/2017 vì vậy đây là hôn nhân hợp pháp.

Qua lời trình bày của bà Đặng Thị Diệu A trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hôn nhân phải trên cơ sở tự nguyện, giữa vợ chồng có sự yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, tuy nhiên quan hệ hôn nhân giữa bà A với ông Đ không hạnh phúc do thường xuyên phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng thường xuyên xảy ra kình cãi vì tính tình hai bên không hợp nhau, mâu thuẫn về tiền bạc, xúc phạm đến danh dự và lòng tự tọng của nhau. Mặt khác, trong suốt quá trình tố tụng, ông Đ cố tình vắng mặt không đến Tòa, điều này đủ cơ sở xác định ông Đ không còn quan tâm đến bà A. Như vậy, mục đích hôn nhân của bà A với ông Đ không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, yêu cầu xin ly hôn của bà A là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Theo tài liệu giấy khai sinh và lời khai của bà A thì có hai con chung là Phan Như Qu, sinh ngày 27/9/2017 và Phan Minh Kh, sinh ngày 03/01/2019; bà A tự nguyện trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng 02 con chung đến tuổi trưởng thành. Cháu Qu, cháu Kh hiện đang ở với bà A. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cũng như bảo đảm sự phát triển toàn diện và cuộc sống ổn định cho con chung, Hội đồng xét xử xét nên giao cháu Qu, cháu Kh cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà A xác định không có tài sản chung và nợ chung với ông Đ nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bà Đặng Thị Diệu A phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Xét về quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị Diệu A.

1.1. Về hôn nhân: Bà Đặng Thị Diệu A được ly hôn ông Phan Văn Đ.

1.2. Về con chung: Giao hai con chung tên Phan Như Qu, sinh ngày 27/9/2017 và Phan Minh Kh, sinh ngày 03/01/2019 cho bà Đặng Thị Diệu A trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Ông Phan Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Phan Văn Đ có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con chung khi cần thiết các đương sự có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.

2. Về án phí: Bà Đặng Thị Diệu A phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí mà bà A đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0001498 ngày 17 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Bà A đã nộp đủ án phí.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Quy định chung: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ