- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Cúc và Sang"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Diệu C. Bà Trần Thị Diệu C được ly hôn ông Trần Thanh S .
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2024/HNGĐ-ST Ngày 23-01-2024 V/v: Tranh chấp ly hôn và nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Tấn Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Phi Long
2. Ông Trần Văn Nước
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Lâm – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải tham gia phiên tòa: Ông Trương Thanh Hà, Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 01 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm tại Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh và tại điểm cầu thành phần tại Toà án nhân dân huyện Càng Long tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 216/2023/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Diệu C, sinh năm 1991 (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện TC, tỉnh Trà Vinh
Chỗ ở: Ấp A, xã TB, huyện C, tỉnh Trà Vinh
- Bị đơn: Ông Trần Thanh S, sinh năm 1989 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07 tháng 11 năm 2023 và lời trình bày trong quá trình Toà án hoà giải cũng như tại phiên toà của nguyên đơn bà Trần Thị Diệu C như sau:
- Về hôn nhân: Bà và ông Trần Thanh S hai bên tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn tại UBND xã L năm 2022. Trong thời gian bà có thai được 03 tháng thì bà về nhà cha mẹ ở tại ấp An Thạnh, xã Tân Bình, huyện Càng Long. Trong thời gian này ông S có tới lui vài lần cho đến khi bà mang thai được 5 tháng thì ông S không đến thăm bà nữa. Cho đến khi bà sinh con thiếu 1,5 tháng thì ông S cũng không đến thăm. Vì lý do đó bà không còn tình cảm gì với ông S nữa nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Trần Thanh S.
- Về con: Bà và ông Trần Thanh S có con chung là Trần Gia H, sinh ngày 09/10/2023 hiện đang sống với bà. Bà yêu cầu được quyền nuôi con, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Trần Thanh S đã được Toà án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án nhưng ông S không gửi văn bản trình bày ý kiến của ông đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Toà án cũng không lấy được lời khai của ông Trần Thanh S nên đã lập biên bản về việc không lấy được lời khai của ông S.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến tại phiên tòa như sau:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật của Thư ký phiên tòa và Hội đồng xét xử: Thư ký phiên tòa và Hội đồng xét xử có mặt tại Tòa đã thực hiện đúng các thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
- Về nội dung vụ án:
+ Về hôn nhân: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xét mức độ mâu thuẫn của bà C và ông S, Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Diệu C.
+ Về con chung: Kiểm sát viên đề nghị giao con chung là Trần Gia Hân, sinh ngày 09/10/2023 cho bà Trần Thị Diệu C trực tiếp nuôi dưỡng.
+ Về cấp dưỡng nuôi con: bà Trần Thị Diệu C không yêu cầu ông Trần Thanh S cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị không xem xét.
+ Về tài sản chung: bà Trần Thị Diệu C và ông Trần Thanh S không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.
+ Về nợ chung: bà Trần Thị Diệu C và ông Trần Thanh S không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.
+ Về án phí: Nguyên đơn bà Trần Thị Diệu C phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
- Về kiến nghị khắc phục: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Trần Thanh S là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai. Vì vậy, Hội đồng xét căn cứ quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Trần Thanh S.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Diệu C và ông Trần Thanh S tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn năm 2022 tại UBND xã Long Hữu, thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh theo đúng quy định pháp luật. Vì vậy, hôn nhân của bà C và ông S là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Theo bà C trong thời gian chung sống, giữa bà và ông S có xảy ra mâu thuẫn do ông S không quan tâm chăm sóc bà trong thời gian bà mang thai và sau khi sinh con. Kết quả xác minh của Tòa án thể hiện giữa bà C và ông S có mâu thuẫn. Đồng thời, thực tế là ông S và bà C hiện nay đã ly thân. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tổ chức hòa giải nhiều lần tạo điều kiện để bà C và ông S đoàn tụ tiếp tục chung sống nhưng bà C vẫn cương quyết ly hôn ông S. Còn ông S không đến Toà án. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã tập trung hoà giải, mong muốn bà C rút lại đơn khởi kiện để về tiếp tục chung sống ông S nhưng bà C vẫn không đồng ý rút lại đơn khởi kiện. Hội đồng xét xử thấy rằng vợ chồng muốn được hạnh phúc là phải cùng yêu thương nhau, cùng chung sống và cùng mong muốn xây dựng gia đình hạnh phúc. Tuy nhiên bà C một mực cương quyết yêu cầu ly hôn ông S vì cho rằng không còn tình cảm với ông S và không muốn tiếp tục chung sống với ông S. Vì vậy, việc bà C và ông S đoàn tụ chung sống với nhau là khó thực hiện được trên thực tế. Từ đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Diệu C như đề nghị của vị Kiểm sát viên.
[3] Về nuôi con: Bà Trần Thị Diệu C và ông Trần Thanh S có con chung là Trần Gia Hân, sinh ngày 09/10/2023. Sau khi xem hết các điều kiện nuôi con của bà C, căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử thấy giao cháu Trần Gia H cho bà Trần Thị Diệu C tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục là đúng quy định pháp luật, đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Trần Thị Diệu C là người được giao nuôi con chung nhưng không yêu cầu ông Trần Thanh S cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Bà C và ông S không có yêu cầu chia tài sản chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận và không xem xét giải quyết.
Về nợ: Bà C và ông S không có nên Hội đồng xét xử ghi nhận và không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà C không thuộc trường hợp được miễn, giảm án phí hoặc không phải nộp án phí. Vì vậy, bà C là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn) là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Vinh hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Diệu C. Bà Trần Thị Diệu C được ly hôn ông Trần Thanh S .
2. Về con chung: Giao con chung là Trần Gia Hân, sinh ngày 09/10/2023 cho bà Trần Thị Diệu C tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng và giáo dục.
Không ai được quyền cản trở bà Trần Thị Diệu C trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Gia H cũng như cản trở ông Trần Thanh S thăm nom con chung.
Vì lợi ích của cháu Trần Gia Hân, khi cần thiết và có yêu cầu của ông Trần Thanh S hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định, Tòa án sẽ xem xét giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.
Nếu ông Trần Thanh S lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì bà Trần Thị Diệu C có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế việc thăm nôm con của ông Trần Thanh S theo quy định pháp luật.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Trần Thị Diệu C không yêu cầu ông Trần Thanh S cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Sau khi ly hôn, bà Trần Thị Diệu C có quyền yêu cầu ông Trần Thanh S cấp dưỡng nuôi con là Trần Gia Hân theo quy định pháp luật.
4. Về tài sản chung: Bà Trần Thị Diệu C và ông Trần Thanh S không có yêu cầu chia tài sản chung nên không xem xét.
Sau khi ly hôn, nếu bà Trần Thị Diệu C và ông Trần Thanh S có tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân thì bà C hoặc ông S có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
5. Về nợ: Bà Trần Thị Diệu C và ông Trần Thanh S không có nên không xem xét.
6. Về án phí: Buộc bà Trần Thị Diệu C chịu án dân sự sơ thẩm (ly hôn) là 300.000 đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0019527 ngày 07 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duyên Hải. Như vậy, bà Trần Thị Diệu C đã nộp xong án phí. Ông Trần Thanh S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
7. Nguyên đơn ông Trần Thị Diệu C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn ông Trần Thanh S vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể được tống đạt hợp lệ bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND TX. Duyên Hải; - Chi cục THADS TX. Duyên Hải; - UBND xã Long Hữu; - Đương sự; - Lưu: hồ sơ vụ án. (9 bản) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Tấn Thanh |