- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NÔNG THỊ X - HOÀNG LƯƠNG TH"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nông Thị X.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2024/HNGĐ-ST. Ngày: 26-02-2024. V/v: “Kiện ly hôn và tranh chấp nuôi con chung”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ.
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Vũ.
Các hội thẩm nhân dân:
1, Ông Nguyễn Văn Thức.
2, Ông Y Dhiệu Hmok.
-Thư ký phiên Tòa: Ông Thiều Sỹ Vững - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Toàn – Kiểm sát viên.
Ngày 26/02/2024 tại phòng xử án, Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ mở phiên toà xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 213/2023/TLST-HNGĐ ngày 06/10/2023 về việc “Kiện ly hôn và tranh chấp nuôi con chung”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2024/QĐST-HNGĐ ngày 17/01/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 04/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05/02/2024, giữa:
Nguyên đơn: Chị Nông Thị X, sinh năm: 1979. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Bình H 3, xã Bình Th, thị xã Buôn H, tỉnh Đăk Lăk.
Bị đơn: Anh Hoàng Lương Th, sinh năm 1976. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Địa chỉ: Thôn Bình H 3, xã Bình Th, thị xã Buôn H, tỉnh Đăk Lăk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án chị X là nguyên đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị X và anh Th về sống chung với nhau từ năm 2001, đăng ký kết hôn tại UBND xã Bình Th (huyện Krông B củ), nay là thị xã Buôn H, tỉnh Đăk Lăk, kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, sau khi về sống chung hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng nhiều quan điểm, không có sự tôn trọng nhau nên xảy ra nhiều cuộc cãi vã làm mất tình cảm vợ chồng, hiện chị X và anh Th đã sống ly thân, cuộc sống chung không thể kéo dài được nữa, nay chị X yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Th.
Về con chung: Chị X và anh Th có 02 con chung là Hoàng Ngọc H, sinh ngày 28/02/2003 và Hoàng Thị Thúy H, sinh ngày 01/7/2005, hiện các con chung đã trưởng thành đủ trên 18 tuổi, nên không yêu cầu giải quyết.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hiện các con chung đã trưởng thành đủ trên 18 tuổi, nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản và nợ chung: Chị X không yêu cầu giải quyết về tài sản và nợ chung.
Quá trình điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ anh Th là bị đơn: Cố tình lẩn tránh, không hợp tác nên không ghi nhận được ý kiến của anh Th và anh Th cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào có liên quan đến vụ án cũng như không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị X.
Phát biểu của Kiểm sát viên:
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa khẳng định:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ, Tòa án thực hiện đầy đủ và đúng trình tự theo quy định của pháp luật về tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của đương sự có trong hồ sơ vụ án do chủ tọa phiên tòa đã công bố tại phiên tòa thể hiện việc chị X khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Th là có căn cứ. Vì vậy, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình. Cho chị X ly hôn với anh Th, các con chung đã trưởng thành, không đề cập xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
. Pháp luật về tố tụng: Việc chị Nông Thị X khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Hoàng Lương Th, Toà án thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập các đương sự đến Tòa án để công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Th vẫn vắng mặt không có lý do, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án, nên Tòa án không thể tiến hành công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự được mà tiến hành xác minh, niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi anh Th cư trú. Căn cứ khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải được và tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn chị X có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
. Pháp luật về nội dung:
2.1, Về quan hệ hôn nhân: Chị Nông Thị X và anh Hoàng Lương Th về sống chung với nhau từ năm 2001, đăng ký kết hôn tại UBND xã Bình Th (huyện Krông B củ), nay là thị xã Buôn H, tỉnh Đăk Lăk theo giấy chứng nhận kết hôn số 06/2001/KH ngày 07/02/2001. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng nhiều quan điểm, không có sự tôn trọng nhau nên xảy ra nhiều cuộc cãi vã làm mất tình cảm vợ chồng, hiện chị X và anh Th đã sống ly thân, cuộc sống chung không thể kéo dài được nữa, nay chị X yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Th.
Căn cứ vào lời khai của đương sự và qua xác minh tại chính quyền địa phương thì chị X và anh Th thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, hiện tại hai người đã sống ly thân. Do đó, xét thấy mâu thuẫn giữa chị X và anh Th ngày càng trầm trọng, giữa hai người không còn thương yêu, chăm sóc, quý trọng lẫn nhau, thực tế hôn nhân không còn tồn tại. Vì vậy, việc chị X yêu cầu ly hôn với anh Th là có căn cứ, nên cần chấp nhận.
2.2, Về con chung: Chị X và anh Th có 02 con chung là Hoàng Ngọc H, sinh ngày 28/02/2003 và Hoàng Thị Thúy H, sinh ngày 01/7/2005, hiện các con chung đã trưởng thành đủ trên 18 tuổi, nên không đề cập xem xét.
2.3, Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện các con chung đã trưởng thành đủ trên 18 tuổi, nên không đề cập xem xét.
2.4, Về tài sản và nợ chung: Chị X không yêu cầu giải quyết về tài sản và nợ chung, nên không đề cập xem xét.
. Về án phí: Chị X phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nông Thị X.
1. Về hôn nhân: Cho chị Nông Thị X được ly hôn với anh Hoàng Lương Th.
2. Về nuôi con chung:
2.1. Các con chung đã trưởng thành đủ trên 18 tuổi, nên không đề cập xem xét.
2.2. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các con chung đã trưởng thành đủ trên 18 tuổi, nên không đề cập xem xét.
3. Về tài sản và nợ chung: Chị X không yêu cầu giải quyết về tài sản và nợ chung, nên không đề cập xem xét.
4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 3 Điều 144; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào khoản 5 Điều 19; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTUQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án;
Chị Nông Thị X phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục THADS thị xã Buôn Hồ theo biên lai số AA/2021/0018647 ngày 05/10/2023.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Đăk Lăk; - Viện KSND TX Buôn Hồ; - Chi cục THADS TX Buôn Hồ; - UBND xã Bình Thuận, TX Buôn Hồ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, vi tính. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đã ký Nguyễn Huy Vũ |