vanban.org

Bản án 05/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị H. Bà H được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc T.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thái K, sinh ngày 26/02/2007 và Nguyễn Thái K1, sinh ngày 01/12/2013 cho bà Nguyễn Thị H nuôi dưỡng, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. Vì lợi ích của con trẻ khi cần thiết có thể thay đổi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H - Nguyễn Ngọc T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị H. Bà H được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 08/01/2024
V/v: “Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG - TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Võ Tấn Thành

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Tư

2. Bà Võ Thị Mỹ Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Nương – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Không có.

Ngày 08 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 353/2023/TLST-HNGĐ, ngày 09 tháng 11 năm 2023, về việc “Ly hôn, nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 08 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Nguyễn Thị H; địa chỉ số D, đường H, Phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. (có mặt)

* Bị đơn: Nguyễn Ngọc T; địa chỉ số E, đường L, Phường B, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 18/10/2023 cùng các lời khai trong quá trình giải quyết, nguyên đơn Nguyễn Thị H trình bày:

Sau khi tìm hiểu một thời gian, bà và ông Nguyễn Ngọc T tiến tới hôn nhân, chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2006, nhưng đến ngày 02/3/2009 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường B, thị xã V (nay là thành phố V), tỉnh Vĩnh Long. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau và ông T1 không chí thú làm ăn, thường xuyên đánh đập, chửi bới, xúc phạm danh dự bà, nên vợ chồng đã ly thân năm 2018 đến nay. Bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc T. Về con chung, có 02 con chung tên Nguyễn Thái K, sinh ngày 26/02/2007 và Nguyễn Thái K1, sinh ngày 01/12/2013; sau khi ly hôn bà H yêu cầu nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và về nợ chung, không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn Nguyễn Ngọc T không có bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà H và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị H khởi kiện ông Nguyễn Ngọc T có địa chỉ tại thành phố V để yêu cầu xin ly hôn; cho nên, đây là vụ án dân sự tranh chấp về hôn nhân và gia đình “Ly hôn, nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn Nguyễn Ngọc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham dự phiên tòa nhưng ông T vẫn cố tình vắng mặt, cho nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H, Hội đồng xét xử thấy: Bà H và ông T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường B, thị xã V (nay là thành phố V), tỉnh Vĩnh Long ngày 02/3/2009, nên được pháp luật thừa nhận là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Quá trình vợ chồng sống chung hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau và ông T không chí thú làm ăn, mà còn xúc phạm danh dự bà; vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã thông báo cho ông T biết việc bà H xin ly hôn nhưng ông T không có ý kiến phản đối, bỏ mặt bà H đơn phương ly hôn. Như vậy, xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà H và ông T đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó, bà H yêu cầu được ly hôn với ông T là có cơ sở chấp nhận phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về quan hệ con chung: Bà H, ông T chung sống có 02 con chung tên Nguyễn Thái K, sinh ngày 26/02/2007 và Nguyễn Thái K1, sinh ngày 01/12/2013; hiện các cháu đang sống chung với bà H, được bà H chăm sóc, nuôi dưỡng cho ăn học đầy đủ; riêng ông T được Tòa án thông báo việc bà H yêu cầu được nuôi con nhưng ông không có ý kiến phản đối. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho các con, nên giao các con chung cho bà H nuôi dưỡng là có căn cứ, phù hợp với nguyện vọng của các con, phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị H. Bà H được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc T.

2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thái K, sinh ngày 26/02/2007 và Nguyễn Thái K1, sinh ngày 01/12/2013 cho bà Nguyễn Thị H nuôi dưỡng, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.

Vì lợi ích của con trẻ khi cần thiết có thể thay đổi quyền nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị H chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000134, ngày 01/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long, nên bà H không phải nộp thêm.

5. Về quyền kháng cáo: Báo cho bà Nguyễn Thị H biết, được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Ngọc T được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ