- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị Hiền yêu cầu xin ly hôn với ông Phan Huỳnh Sơn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số:05/2024/HNGĐ-ST Ngày 12-01-2024 V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Vĩ.
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Trần Vũ Hà
2. Ông Hồ Xuân Giao
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quỳnh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột: Ông Đào Anh Vũ- Kiểm sát viên.
Ngày 12/01/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh ĐắkLắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:802/2023/HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 212/2023/QĐXX-ST ngày 01 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 178/2023/QĐST-HNGĐ ngày 18/12/2023 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H-sinh năm:1974(Có mặt)
-Bị đơn: Ông Phan Huỳnh S- sinh năm: 1976(Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1].Theo đơn ly hôn, bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Tôi và ông Phan Huỳnh S tự nguyện sống chung có tổ chức lễ cưới vào năm 2007 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hòa Phú, TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 24/12/2009(Sống chung, có con trước khi đăng ký kết hôn).
Quá trình chung sống vợ chồng sảy ra nhiều mâu thuẫn không thể hòa giải, nguyên nhân mâu thuẫn 02 vợ chồng sống không hòa hợp thường xuyên cãi vã dẫn đến nhiều mẫu thuẫn xung đột không thể hàn gắn. Ông S thường xuyên đi đánh bài bạc, tụ tập bạn bè uống rượu say. Tôi góp ý thì ông S chửi bới đánh đập tôi nhiều và còn xúc phạm tôi và gia đình tôi, vợ chồng tôi sống cùng nhà nhưng mạnh ai người đó sống, từ lâu không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau.
Nay xác định tình cảm vợ chồng là không còn tôi yêu cầu Tòa án xin ly hôn với ông Phan Huỳnh S.
-Về con chung: Tôi và ông S có 02 con chung là: Cháu Phan Đức H- sinh ngày: 17/04/2007 và cháu Phan Thị Đức V- sinh ngày: 10/12/2012;
Khi ly hôn tôi đồng ý giao con chung là cháu Phan Đức H- sinh ngày: 17/04/2007 cho ông Phan Huỳnh S được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên.
Tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phan Thị Đức V- sinh ngày: 10/12/2012 đến tuổi thành niên.
-Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tôi và ông Phan Huỳnh S tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-Về tài sản chung và nợ chung: Tôi và Phan Huỳnh S tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2].Đối với bị đơn ông Phan Huỳnh S: Tòa án đã tiến hành thông báo triệu tập hợp lệ nhưng ông Phan Huỳnh S không lên Tòa án làm việc nên không lấy được lời khai.
-Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột phát biểu về việc giải quyết vụ án: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng theo quy định của pháp luật còn bị đơn chưa chấp hành đúng quy định.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị H và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Cho bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Phan Huỳnh S.
-Về con chung: Giao cháu Phan Thị Đức V- sinh ngày: 10/12/2012 cho bà Nguyễn Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu đến tuổi thành niên(18 tuổi) và giao cháu Phan Đức H- sinh ngày: 17/04/2007 cho ông Phan Huỳnh S được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (18 tuổi).
-Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
-Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-Về án phí ly hôn sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Tranh chấp giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị H và bị đơn ông Phan Huỳnh S là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền Tòa án giải quyết.
Bà Nguyễn Thị H và ông Phan Huỳnh S hiện nay sinh sống tại 253 Thôn 7, xã Hòa Phú, TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng ông Phan Huỳnh S không lên Tòa án làm việc không có lý do, không có ý kiến trình bày tiếp theo về các nội dung yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H; không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được và đã phải hoãn phiên tòa lần đầu vào ngày 18 tháng 12 năm 2023. Tại phiên tòa hôm nay, ông S vẫn vắng mặt là thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông S theo quy định.
Hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị H và ông Phan Huỳnh S là hợp pháp; trong thời gian chung sống, có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng về quan điểm sống, không tin tưởng đến nhau nên sinh nghi ngờ dẫn đến cãi vã, hai bên đã hòa giải, hàn gắn nhưng không thành, tiếp tục mâu thuẫn, từ lâu cuộc sống vợ chồng không còn ai quan tâm chăm sóc đến nhau. Như vậy, giữa bà Nguyễn Thị H và ông Phan Huỳnh S không còn tình nghĩa vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình; từ đó vợ chồng bà Nguyễn Thị H và ông Phan Huỳnh S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đây là căn cứ cho ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị H và ông Phan Huỳnh S có 02 con chung là: Cháu Phan Đức H- sinh ngày: 17/04/2007 và cháu Phan Thị Đức V- sinh ngày: 10/12/2012.
Xét nguyện vọng của bà H là muốn được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cháu Phan Thị Đức V- sinh ngày: 10/12/2012 đến khi thành niên và đồng ý giao cháu Phan Đức H- sinh ngày: 17/04/2007 cho ông Phan Huỳnh S được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên vì điều kiện thời gian và thu nhập có hạn không đủ điều kiện một lúc nuôi 02 cháu. Xét nguyện vọng của cháu Phan Đức H- sinh ngày: 17/04/2007 là được ở với ông Phan Huỳnh S và nguyện vong chính đáng của bà H và cháu V, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh nên Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận nên cần giao cháu Phan Thị Đức V- sinh ngày: 10/12/2012 cho bà Nguyễn Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên(18 tuổi) và giao cháu Phan Đức H- sinh ngày: 17/04/2007 cho ông Phan Huỳnh S được trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên(18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị H và ông Phan Huỳnh S không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị H và ông Phan Huỳnh S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.
. Về án phí bà Nguyễn Thị H là người yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khỏan 1 Điều 39; Điều 146; điểm a khoản 1 Điều 203; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ các Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Phan Huỳnh S.
2. Về con chung: Giao cháu Phan Thị Đức V- sinh ngày: 10/12/2012 cho bà Nguyễn Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu đến tuổi thành niên(18 tuổi) và giao cháu Phan Đức H- sinh ngày: 17/04/2007 cho ông Phan Huỳnh S được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên(18 tuổi).
Bà Nguyễn Thị H và ông Phan Huỳnh S được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản.
-Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4.Về án phí ly hôn sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà bà H đã nộp tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm theo biên lai thu số 0004649 ngày 06/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự TP. Buôn Ma Thuột.Ông Phan Huỳnh S không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -P.NV&THA TA tỉnh Đắk Lắk; -VKSND tỉnh Đắk Lắk; -VKSND TP.BMT; -CCTHADS TP.BMT; -UBND xã Hòa Phú -Các đương sự; -Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Vĩ |